Chuyện tôn giáo và kinh tế (phần 3) Reviewed by Momizat on . BLOG CỦA ALAN NGÀY THỨ NĂM 3/10/2012 Không phải vô tình mà tôi đem chủ đề này ra cho các BCA bàn luận. Tôi viết một bài dài về kinh tế Việt Nam trong cận cảnh h BLOG CỦA ALAN NGÀY THỨ NĂM 3/10/2012 Không phải vô tình mà tôi đem chủ đề này ra cho các BCA bàn luận. Tôi viết một bài dài về kinh tế Việt Nam trong cận cảnh h Rating:
>>Trang chủ » Lang Thang Phố Nhỏ » Chuyện tôn giáo và kinh tế (phần 3)

Chuyện tôn giáo và kinh tế (phần 3)

BLOG CỦA ALAN NGÀY THỨ NĂM 3/10/2012

Không phải vô tình mà tôi đem chủ đề này ra cho các BCA bàn luận. Tôi viết một bài dài về kinh tế Việt Nam trong cận cảnh hiện tại; nhưng quyết định tự kiểm duyệt vì một người bạn thân nghĩ là sẽ có tác dụng ngược với ý định của mình.

Các bạn còn nhớ khi nói về những giây phút thất vọng và buồn chán, tôi hay tìm đến một ngôi chùa hay thánh đường vắng vẻ …để ngủ. Đối với tôi, tôn giáo là sự suy ngẫm và giác ngộ lại các chân lý đơn giản trong những bôn ba hàng ngày; và đôi khi, tìm kiếm sự trả giá trong tâm linh cho những lỗi lầm và ngu xuẩn.

Hai bài blogs về tôn giáo đã thu hút số lượng kỷ lục những người quan tâm bình luận. Phản hồi đó cho tôi thấy một thao thức rất cao về đức tin, về an bình nội tại, về sự thăng hoa của tâm hồn. Các bạn, dù trẻ, đã rất chin chắn trong tư duy cởi mở và trong hành trình cải tiến “con người đích thực” của mình. Tôi hãnh diện với những người bạn đồng hành như vậy.

Kinh tế, chánh trị, cơn bão năm Thìn, hệ thống ngân hàng, BDS, chứng khoán…chỉ là vài cột mốc rồi sẽ bụi mờ trong con đường sự nghiệp hay kinh doanh của chúng ta. Cách này hay cách kia, đau khổ hay sung sướng, được hay mất, thành hay bại…rồi cũng qua đi trong ký ức. Nhưng những thao thức về tôn giáo hay thân phận và ý nghĩa đời mình sẽ theo chúng ta trọn đời. Sự quan tâm của các bạn đến nhu cầu trọng điểm của mọi thời đại cho mọi con người trong mọi hoàn cảnh là một minh chứng cho cái “biết” của những người trẻ (không dựa trên tuổi tác). Đất nước này còn nhiều ngọn lửa đang âm thầm cháy trong những đêm dài chờ sáng.

Tôi hứa là sẽ viết một bài “suy tư của cá nhân tôi về tôn giáo” nhưng những ngày này lại quá bận với những lình xình của tình thế, riêng và tư.  Cho tôi thêm một vài tuần. Khi trầm mình trong biển cả, có lẽ tôi sẽ tìm được cảm hứng…

Hôm nay, tôi chỉ xin lập lại lời của Joseph Campbell, “God is a metaphor for that which transcends all levels of intellectual thought”. (Thượng Đế là một ẩn dụ vượt qua mọi suy nghĩ của trí tuệ)

Alan

Bình luận (71)

  • Nguyễn Thành Tân

    Thích nhất câu này của bác “Đất nước này còn nhiều ngọn lửa đang âm thầm cháy trong những đêm dài chờ sáng”^^

    Reply
      • JackZhang

        Sir PhD viết: Cách này hay cách kia, đau khổ hay sung sướng, được hay mất, thành hay bại…rồi cũng qua đi trong ký ức. Nhưng những thao thức về tôn giáo hay thân phận và ý nghĩa đời mình sẽ theo chúng ta trọn đời. Sự quan tâm của các bạn đến nhu cầu trọng điểm của mọi thời đại cho mọi con người trong mọi hoàn cảnh là một minh chứng cho cái “biết” của những người trẻ (không dựa trên tuổi tác). Đất nước này còn nhiều ngọn lửa đang âm thầm cháy trong những đêm dài chờ sáng. Đất nước này cần ngọn lửa của vị Thần TỰ DO thắp sáng.
        Tự do tôn giáo (freedom of religion, religious freedom, liberty of religion) khác với tự do không tôn giáo (freedom from religion, liberty from religion) như học thuyết Marx/Lenin. Tự do tôn giáo là tự do hành đạo theo tôn giáo mình theo, còn tự do không tôn giáo là tự do không theo bất kỳ tôn giáo nào, nghĩa là không có niềm tin tôn giáo (non-religious) hoặc vô thần (atheist).
        Tự do tôn giáo, như đã được bảo đảm bởi Luật sửa đổi thứ nhất của Hiến pháp Hoa Kỳ, liên quan hai vấn đề quan trọng. Vấn đề thứ nhất về việc chính quyền cấm “thành lập tôn giáo” – tách biệt giữa Giáo hội và nhà nước; vấn đề thứ nhì là bảo đảm rằng chính quyền cho phép thực hành tôn giáo (Perry, 10). Luật sửa đổi nói: “Quốc hội sẽ không ra luật tôn trọng sự thành lập tôn giáo, hoặc cấm thực hành tôn giáo” (Hiến pháp). Cũng vậy, Luật sửa đổi thứ tư ủng hộ tự do tôn giáo, cung cấp việc bảo vệ các quyền của các cá nhân khỏi bị luật nhà nước lấn chiếm (Hiến pháp). Nhiều vụ án quan trọng trong lịch sử Hoa Kỳ đã giúp đỡ để xác định các giới hạn của tự do tôn giáo như đã ấn định trong Hiến pháp (ACLU).Nguồn gốc của tự do tôn giáo, với sự tập trung vào Tây phương – USA. Tự do tôn giáo đặc biệt quan trọng ở USA vì quốc gia này có nền dân chủ “tiến bộ” về niềm tin tôn giáo và thực hành tôn giáo. Các cuộc nghiên cứu mới đây cho biết có 70% người lớn Mỹ theo Kitô giáo hoặc Do Thái giáo, và 95% có niềm tin vào Thiên Chúa
        (Perry, 3).Điều khoản tự do thực hành tôn giáo cấm chính quyền can thiệp vào việc thực hành tôn giáo của bất kỳ người nào. Tuy nhiên, các hành vi và các nghi lễ tôn giáo có thể bị hạn chế theo luật dân sự và luật liên bang.
        Tự do tôn giáo là quyền tuyệt đối, bao gồm quyền thực hành tôn giáo mà mình đã chọn, hoặc không theo tôn giáo nào, và làm điều này mà không bị chính quyền kiểm soát.
        Quyền tự do tôn giáo và tự do thực hành tôn giáo
        * Tự do tôn giáo là quyền bất khả xâm phạm.
        * Luật sửa đổi thứ nhất cho phép mọi người Mỹ được tự do tôn giáo.
        * Điều khoản tự do tôn giáo ra lệnh chính phủ không được kiểm soát hoặc ngăn cấm thực hành tôn giáo.
        * Chính phủ chỉ là trung gian.
        Tự do tôn giáo nói đến một số quyền tự do cho phép người ta chọn cách tôn thờ hoặc không tôn thờ. Các chính quyền quốc tế thường coi các quyền tự do này là nhân quyền, và nhiều quốc gia coi đó là các quyền theo hiến pháp. Dù các quyền tự do này được bao gồm trong luật pháp trên khắp thế giới, các quyền đó vẫn được thực hành và bị ép buộc theo nhiều cấp độ.
        Tự do tôn giáo cho người ta một số quyền. Để bắt đầu, nó cho phép người ta chọn tôn giáo mình muốn theo. Chẳng hạn, các Nhân chứng Giavê (Jehovah’s Witnesses) tin rằng tên của Thiên Chúa là Giavê và Ngài có một Con Trai là Giêsu Kitô. Các tín đồ Hồi giáo tin rằng Đấng sáng tạo muôn vật tên là Allah và họ không nhận là Allah có một Con Trai. Ở nơi có tự do tôn giáo, người ta có thể tin hoặc không tin thần thánh nào. Điều này bao gồm quyền tự do tin đa thần.
        Người ta cũng có thể không tin Thiên Chúa. Những người vô thần cũng được bảo vệ bởi những quyền tương tự như những người có niềm tin tôn giáo. Trong một xã hội có tự do tôn giáo, người ta thường có quyền tự do thay đổi tôn giáo. Vả lại, mỗi người trưởng thành phải được tự do chọn lựa cho chính mình. Nghĩa là một người không được người khác cho quyền để thực hành tôn giáo, không phải “xin-cho”.
        Những đất nước theo học thuyết CS thì có “tôn giáo quốc doanh” ở Việt nam vẫn nhiều khống chế do chính sách của NN là “ngăn chặn sự phát triển của các tôn giáo theo hướng Tự Do” và tìm mọi phương cách để kiểm soát lũng đoạn, phân hóa hàng ngũ của các tổ chức tôn giáo. Các bộ phận như “Ban Dân vận Trung ương”, “Ban Tôn giáo của chánh phủ”, “Công an Tôn giáo” và “Mặt trận Tổ quốc” vẫn phối hợp chặt chẽ với nhau để thường xuyên kềm chế, theo dõi mọi sinh hoạt của các tôn giáo. Trong nhiều trường hợp, cơ quan an ninh của nhà nước còn sử dụng côn đồ bạo hành như đối với tín đồ các Tôn giáo như: Cao Đài, Công giáo, Phật Giáo Thống Nhất. Nhìn bề ngoài, khi thấy các tín đồ tấp nập về tham dự những ngày đại lễ của đạo ở Tòa thánh, ở các chùa, các nhà thờ…, người ta dễ có cảm tưởng là đã có sự tự do tôn giáo. Nhưng thực chất, thì đây chỉ là thứ tự do về thờ phượng (freedom of worship) mà thôi; chứ đó không phải là tự do tôn giáo. NN vẫn áp dụng những biện pháp đối nghịch đối với các tôn giáo, vẫn coi tôn giáo như là một thế lực thù địch cần phải được vô hiệu hóa. Bằng nhiều biện pháp như: chỉ đạo các hội đoàn, mở trường đào tạo “cán bộ tôn giáo”…. luôn áp đặt sự đòi hỏi của các tôn giáo là do có sự “tiếp tay của các thế lực thù địch” để lật đổ chế độ mặc dầu tôn giáo chỉ đấu tranh đòi hỏi tự do tín ngưỡng. Chính quyền chỉ muốn cho tôn giáo đóng vai trò “là thứ trang trí, quảng cáo” cho chế độ trước cộng đồng quốc tế. Họ chủ trương không để cho bất kỳ tôn giáo nào mà lại có thể đóng vai trò làm “đối trọng tinh thần’ (moral counterbalance) đối với đảng. Tình trạng Tôn giáo ở Việt nam đã bị nhiều tổ chức quốc tế về Nhân quyền Human Rights Watch (HRW) thường xuyên lên tiếng và ủy ban về Tự do Tôn giáo Quốc tế USCIRF (US Commission on International Religious Freedom) đã nhiều lần lên tiếng kêu gọi chánh phủ Mỹ phải đem Việt Nam trở lại danh sách CPC tức là “các quốc gia cần phải được quan tâm theo dõi”.
        Vậy Thị trường Kinh tế TỰ DO có THẬT trên xứ này không??Kinh tế được điều hành bằng sự giả dối? Mong BCA phân tích và tranh luận tiếp…

        Reply
      • Tịnh Tâm

        Vậy theo bạn Chúa và Einstien ai vĩ đại hơn !
        Và khi tuyệt vọng bản năng bạn nguyện cầu với ai ?

        Reply
    • thudinh

      Mình cũng thích câu này, có đức tin con người sẽ vững bước qua giông bão!

      Reply
  • meolat

    Từ nhỏ đến lớn hàng ngày nhìn thấy những thói đua đòi, khoe mẽ, vòi vĩnh của đám thầy chùa trong mọi đám chết, đám cúng. Rồi những tệ nạn xin-cho nhan nhản khắp các chùa chiền, nhà thờ. Tôi đã đọc rất nhiều kinh thánh, kinh phật học lý thuyết thì rất hay, nhưng thực tế tại VN thì quá tệ. Thật tình Tôi không còn tin vào tôn giáo được nữa.

    Reply
    • papillon

      Mình nghĩ bạn cũng đừng quá bi quan khi nhìn những cảnh ấy, ở đâu cũng có người xấu người tốt. Nếu bạn biết chọn người tốt mà chơi thì đời bạn cũng tốt theo, do đó nếu bạn học đúng chánh pháp hẳn bạn sẽ có cái nhìn khác. Mình mạn phép nó một tí về Phật Pháp. Theo Phật Pháp thì đời chúng ta đang sống là đời mạt pháp, chính vì thế mà ma tử, ma tôn quyết tâm phá hoại giáo pháp nhà Phật; họ đã từng thề trước mặt Đức Phật là đời mạt pháp họ sẽ cho con cháu nhà họ đắp y Phật, ăn cơm của Phật và ị vào bình bát của Phật. Ngày nay, tà sư thuyết pháp đông như cát sông Hằng. Mình nói thế để các bạn hiểu mà đừng chê bai Phật Pháp để rồi mang trọng tội. Phật Pháp không bao giờ lôi kéo tín đồ, Phật Pháp là một nền giáo dục viên mãn của Phật Đà. Nếu bạn học Phật đúng chánh pháp bạn sẽ không cảm thấy bất an trong cuộc sống động loạn ngày nay.
      Vài lời chia sẻ cùng bạn.

      Reply
    • Ctrung

      Chào bạn,

      Bạn thử tách biệt thầy tu với phật giáo nghen, hy vọng bạn sẽ có góc nhìn khác. Dĩ nhiên là có vị tu hành chân chính, rất đáng trân trọng, nhưng ít gặp.

      Bạn thử tìm sách viết về phật giáo của những người không phải thầy tu đi. Nếu bạn tin là có nhân quả, luân hồi thì thử tìm đọc sách của nhà văn Nguyên Phong xem có giúp gì được cho bạn không nhé.

      Thân chào.

      Reply
    • Diamond

      Có người thông thái nói cho bạn biết chỗ có vàng ròng, dĩ nhiên là có vàng nhưng vì đào chưa sâu nên chỉ thấy sỏi đá, bạn thất vọng và bạn sẽ chẳng bao giờ có cơ hội lấy được vàng thật cả vì điều đơn giản bạn không tin là có vàng. Đừng phàn nàn vì sỏi đá nữa cứ đào đi, biết đâu bạn sẽ lấy được kim cương dưới những lớp đá sỏi.

      Reply
  • ISAOMACHII

    Vâng! Chúng cháu chờ những chia sẻ mới nhất từ Chú.

    Chúc chú sức khỏe!

    Reply
  • Đức Vang

    Cám ơn ông Alan trước nhé! Cám ơn một tâm hồn lãng mạn và trách nhiệm với dân tộc, đất nước. Cầu mong ông nhập sâu trong “Thiền định” để tâm hồn, trí tuệ thăng hoa rồi viết bài này thật sâu sắc và minh triết để chúng cháu suy ngẫm và học hỏi.
    Mọi người chắc chắn là sẽ rất mong chờ bài viết của ông.

    Reply
  • Giáo Làng

    Tôi rất đồng tình với bác điều này “Đất nước này còn nhiều ngọn lửa đang âm thầm cháy trong những đêm dài chờ sáng” .
    Cảm ơn bác đã bộc bạch chân tình và sâu sắc .
    Có đôi lúc bi quan khi thấy xã hội đầy rẩy những tệ nạn , bất công . Đọc bài của bác thấy ấm lòng .

    Reply
    • tuantrinh

      Ở đất nước chúng ta, triết học và tôn giáo không được phổ biến, không được giảng dạy phổ cập xứng với tầm quan trọng của chúng; nhưng rất nhiều người lặng lẽ sống đời minh triết.

      Reply
  • đình phi

    Nếu 1 nền văn hóa được dựa trên nền tảng tôn giáo vững chắc, sẽ có niềm tin-tài sản mềm lớn nhất của nước Mỹ. Có niềm tin rồi, sẽ không có các câu chuyện như bài báo này.Xây dựng đất nước nên bắt đầu từ xây dựng giá trị niềm tin, cái đã bị bỏ quên sau mấy chục năm.

    http://vnexpress.net/gl/ban-doc-viet/2012/10/tha-dat-bo-dung-giao-xe-may-cho-tiem-lua-dao/?utm_source=Boxnew&utm_medium=logo&utm_term=tracklink&utm_content=logolink&utm_campaign=Box_new

    Thà dắt bộ, đừng giao xe máy cho tiệm lừa đảo

    Nếu trước khi dừng lại xe vẫn hoạt động bình thường thì một số bộ phận quan trọng trên xe không thể tự hư hỏng được mà nhất định có sự tác động từ bên ngoài, trừ khi trời mưa khiến nước vào bình xăng con.
    >300 mét hai tiệm sửa xe lừa đảo ở Hà Nội
    >Mất con heo dầu khi gửi xe máy siêu thị

    Tôi là người chúa ghét bọn gian tặc, dù trong bất cứ việc gì đi nữa thì bọn chúng cũng cần phải bị xử lý đích đáng.

    Quý độc giả hình dung chiếc xe máy chạy được là nhờ bộ máy (phần cơ), điện, xăng (nhiên liệu) và đây cũng là những bộ phận nhạy cảm cho hoạt động của chiếc xe.

    Nếu xe đang trong tiệm để vá săm chẳng hạn mà sau đó không chạy được nữa thì các anh chị nên điện thoại báo công an đến xử lý. Trong khi chờ công an đến các anh chị không cho thợ đụng vào xe của mình. Các anh chị trình bày với công an sự việc rồi họ sẽ có cách tìm ra nguyên nhân.

    Nên dắt xe đi tiệm uy tín để sửa trong trường hợp bị những thợ sửa xe lừa đảo phá. Ảnh minh họa: Internet
    Nếu không, các anh chị chịu khó dắt bộ xe đi tiệm khác đáng tin cậy khi thấy những hư hỏng đáng ngờ phát sinh tại tiệm sửa xe.

    Trường hợp bị phá hỏng nhiều nhất là ốc bưởng. Nó gồm một con ốc chỉnh và một con ốc chặn để cố định ốc chỉnh, chức năng của ốc này là điều chỉnh côn để vào số cho dễ dàng. Cách chỉnh là vặn ra hay vặn vào con ốc chỉnh thôi. Ốc chỉnh có chiều ren ngược với các loại ốc thông thường. Khi vặn theo chiều kim đồng hồ thì ốc này được tháo ra (thông thường là vặn vào) và ngược lại.

    Cách điều chỉnh ốc là dùng cờ lê 14 hoặc mỏ lết vặn ốc chặn ra, dùng tua vít dẹp hoặc dao nhọn vặn ốc chỉnh ra hết cỡ rồi vặn vào từ từ cho đến khi cảm thấy vừa nặng thì dừng lại, rồi vặn ngược ra 1/4 vòng, dùng cờ lê 14 siết ốc chặn lại để cố định ốc chỉnh. Hoặc có thể tháo ốc bưởng ra hết cỡ (nhưng đừng lấy ốc ra) rồi nổ máy sang số 4 chạy tạm đến khi gặp tiệm uy tín nhờ họ chỉnh lại ốc bưởng.

    Về cơ bản ốc bưởng có chức năng giống với việc tác động lên cần số, đó là mở côn. Nhấn cần số về trước hay sau thì côn mở cũng giống như trường hợp vặn ốc chỉnh (ốc bưởng) vào thì côn mở. Khi côn mở thì sang số bình thường, máy xe vẫn nổ nhưng chuyển động của trục khuỷu không truyền lên trục số nên xe không thể chạy được. Vì vậy những thợ sửa xe lừa đảo thường lợi dụng điều này và phá bằng cách vặn ốc chỉnh vào.

    Khi không tác động lên cần số tương đương với việc tháo ốc chỉnh ra thì côn đóng. Côn đóng thì sang số khó vì vậy trường hợp này các anh chị nổ máy rồi sang số 4 và chạy đến những tiệm uy tín.

    Reply
  • JackZhang

    ” Nhưng những thao thức về tôn giáo hay thân phận và ý nghĩa đời mình sẽ theo chúng ta trọn đời.” Thank you Sir. Câu nói đầy Triết lý và Nhân bản.

    Reply
  • Le duc

    “Đất nước này còn nhiều ngọn lửa đang âm thầm cháy trong những đêm dài chờ sáng”, câu này hay quá

    Reply
  • Vô Danh

    thứ 5, ngày 4 tháng 10 bác Alan!

    Reply
    • Huyphan

      Hi. Chắc có lẽ bác Alan quá bận rộn. Chúc bác giữ ngọn lửa trong tim để thắp sáng những đêm dài lạnh lẽo. Cháu mến mộ Bác!

      Reply
  • Ctrung

    Một chút ấm lòng trong những ngày dài mưa bão.

    Cảm ơn bác.

    Reply
  • Lưu Thị

    Con đọc cuốn “5 sự thật ko thể thay đổi của tác giả người Mỹ David Richo. Nó là 1 cuốn sách thiên về Phật giáo rất hay. Theo con thấy thì Phật giáo ko phải lí do làm cho kinh tế kém phát triển mà nó làm khai sáng tinh thần và làm cho bản thân có thể thanh thản tựa vào chính mình cho dù bất trắc gì xảy ra. Con còn nhớ câu nói mà con đọc trong đó: “Thượng đế là sự nhân cách hóa một thực tại nội tâm. Bạn ko còn cô đơn trong vũ trụ.”

    Reply
    • JackZhang

      Đừng dùng điều đó để cam chịu…hãy làm tiếp công việc dang dở … Chúng ta là CON NGƯỜI (viết chữ đậm)

      Reply
  • Phạm Tiến Thành

    Tôn giáo là 1 tấm gương để người ta tự nhìn lại mình trong đó. Đối với tôi, Đạo Phật là 1 mặt hồ, soi vào đấy không chỉ thấy mình mà còn thấy cả vũ trụ.

    Reply
  • Nguyen Thai Thuan

    Ôi lối viết thật đẹp và lã lướt. Sự suy tư về thân phận theo ta cho ta tới cuối đời. Thôi hãy quên lo.
    Chú Alan, cháu đọc bài chú nhiều. Lần nào cũng thấy hay và cảm khái.

    Reply
    • HaiAu

      “Ôi lối viết thật đẹp và lã lướt.”

      Your comment can make someone sleepless… In Saigon, huh? ;-)

      Reply
  • Tungphan

    Gửi Alan Phan,

    Câu kết luận của ông, tôi thấy nhiều vấn đề đã được giải quyết rồi đó!

    Nhưng xin góp nhặt sửa chút lại cho vui:

    “Thượng Đế tạo ra trí tuệ. Ngài không phải ẩn dụ. Con người có trí tuệ, hãy đi tìm kiếm Thượng Đế, đó là nguồn của trí tuệ”

    Reply
  • BLoc

    Chọn “ĐẠO” theo những ý niệm về Nơi Hạnh phúc, Cỏi Niết bàn, Thiên đường, …

    Trong “tập ba” của chủ đề tôn giáo này, trước khi chờ đọc bài của Tiến sỹ Alan Pham, tôi xin “góp vui” một vài suy nghĩ về những “đích đến” của các Chủ nghĩa và Tôn giáo của loài người.

    + Chủ nghĩa Cộng sản đích đến là một xã hội làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu. Không tư hữu, không có giai cấp, tầng lớp xã hội.

    + Chủ nghĩa Xã hội đích đến là một xã hội độc lập, tự do, hạnh phúc, công bằng, văn minh, tiến bộ… và rất nhiều khẩu hiệu. Mọi hoạt động đều được định hướng để tối ưu hóa nguồn lực của xã hội. Vẫn có giai cấp, tầng lớp xã hội và một số quyền riêng tư.

    + Chủ nghĩa Tư bản đích đến là một xã hội tự do, cạnh tranh, nhân quyền, công bằng, văn minh, khuyến khích tư hữu, tham lam, nhưng hoạt động theo luật. Giai cấp, tầng lớp xã hội phân biệt rõ rệt.

    + Chủ nghĩa Độc tài đích đến là một xã hội chuyên chế, định hướng tuyệt đối để phục vụ cho một nhóm người.

    + Nho giáo đích đến là Xã hội có trật tự, giai cấp có nhiều bậc, con người tự hoàn chỉnh mình theo Ngũ kinh sau này là Luận ngữ để trở thành chính nhân quân tử, quan hệ với nhau theo chuẩn mực được tầng lớp trí thức định ra.

    Trở lên trên, đích đến là “thiên đường hay địa ngục” chính ngay ở trần gian này, nơi con người sống bị giới hạn trong không gian và thời gian, cảm nhận “đích đến” bằng các giác quan của con người. Còn những “đích đến” của những đạo giáo dưới đây là sự cảm nhận bằng siêu nhiên.

    + Đạo giáo (Đạo Lão) đích đến là cỏi Thần Tiên, thông qua các phương pháp vận dụng thế giới vi quan từ thân tâm để đưa con người hợp nhất với Vũ Trụ, mà học được phép biến hóa, sử dụng được các năng lực tiềm ẩn của con người trong ý niệm âm dương hòa hợp sẽ sinh ra vạn vật muôn loài.

    + Đạo Phật đích đến là cỏi Niết bàn nơi con người thống nhất với cái Nhất Thể Tuyệt Đối, thông qua con đường tận diệt gốc rễ của ba nghiệp bất thiện là tham, sân và si, để không còn phụ thuộc kiếp luân hồi của sinh, lão, bệnh, tử.

    + Đạo Thiên Chúa (Do Thái, Ky Tô, Tin Lành, Hồi giáo…) đích đến là cỏi Thiên đường, thông qua yêu thương, tha thứ, phó thác như trẻ nhỏ theo ý Chúa để cả hồn và xác được đưa về hợp nhất với Đấng Tạo Dựng Vĩnh Hằng.

    + Một số đạo khác và học thuyết khác do chưa tham khảo nên không nhắc đến ở đây.

    Thông qua Ý Niệm thiên đường của các Đạo là nơi mà con người được trở về hợp nhất với Vũ Trụ, Nhất Thể Tuyệt Đối, Đấng Tạo Dựng Vĩnh Hằng và những Xã hội mà các Chủ nghĩa muốn đưa con người đến với cuộc sống hạnh phúc, bằng những cảm nhận của các giác quan của con người thông qua những phản ứng sinh hóa lý.. làm thước đo về “Thiên đường” hay “Địa ngục” ở trần gian. Ta thấy mỗi hình thái bằng những cách khác nhau, dùng những công cụ khác nhau để xây dựng “Con Đường” và cho cách cảm nhận những dạng hạnh phúc mỗi loại mỗi kiểu.

    Chính vì khác “hệ quy chiếu” nên ngay trong cùng một Chủ nghĩa cũng đã hình thành Thiên đường của người này đã có thể là Địa ngục của người kia và ngược lại (những cuộc nhậu nhẹt, cờ bạc, hút sách… học hành, đạo đức, luật lệ … cái nào cũng có người tích kẻ ghét), rồi khác Chủ nghĩa cũng như Đạo thì “Thiên đường” và “Địa ngục” càng đối chọi nhau hơn. Và hơn hết là khi nhìn nhận bằng hệ quy chiếu “vật chất” (các giác quan của nhóm Chủ nghĩa) đối với các Thiên đường của các Đạo thuộc hệ quy chiếu “tinh thần” thì lại càng tréo cẳng ngỗng nên càng không thể hiểu nhau và ngược lại. Đó là nguyên nhân của các cuộc tranh luận kiểu này không bao giờ kết thúc, thậm chí đã đưa đến cả chiến tranh!

    Với tôi, trong thế giới vật chất của các hình thái xã hội, hành động hằng ngày của ta chính là đang tự tạo ra thiên đường địa ngục ở dạng lẫn lộn, nếu ai thấy phù hợp cái thiên đường địa ngục khó phân biệt ranh giới này thì cứ vậy mà sống và cũng không nên lầm tưởng với thiên đường mà các Đạo đang nói đến. Ở đó các giác quan, hình tướng của con người phải không còn, vì nếu còn thì điểm công bằng đã không thể thực thi. (ở trần gian anh đã giỏi hơn tôi, chị đã đẹp hơn tôi và nhiều cái của tôi thua người, khi lên thiên đường, nếu vẫn giữ nguyên thế thì thật bất công đúng không?).

    Rồi ngay cả trên đường thực thi một giáo thuyết thì ta cũng đã tạo ra hình ảnh thiên đường và từng bước biến thể theo Y Niệm của Đạo. Và nếu khi ta chọn một hình thái Xã hội hay một Đạo mà ta chưa hiểu, chưa đồng nhất với Ý Niệm của nó thì làm sao ta có được “cảm nhận hạnh phúc, ấm no, tự do, dân chủ..” hay “hợp nhất thành một bản thể” với nó được.

    Vậy chính ta phải chọn Con Đường của ta, để đi đến “ĐÍCH” mà ta thấy phù hợp với căn cơ, hoàn cảnh, điều kiện… của ta nhất, đó chính là “ĐẠO” của mỗi người.

    Reply
    • BLoc

      Xin lỗi anh Alan về việc viết nhầm họ của anh ở trên. Hôm nay đọc bài phỏng vấn của VnExpress, phóng viên cũng nhầm họ của anh là Phạm !

      Mới biết Anh nổi tiếng đến mức mà nhiều người chỉ chú ý đến Ý mà quên về Tướng của anh luôn.

      Reply
  • Bill Nguyen

    Bai Viet nao cua bac Alan cung hay….chi co dieu khong the ap dung duoc o 1 dat nuoc tut hau uong bia nhieu nhu Vietnam…buon lam Thay:(

    Reply
  • Minh Trung

    Tôn giáo sẽ ảnh hưởng đến kinh tế, và cũng có khi quyết định về kinh tế….Nếu Như ….tư tưởng tôn giáo đó được “tỏa hào quang” trong một quốc gia dân chủ! Còn trong một chế độ độc tài, tư tưởng đó, ánh hào quang của tôn giáo sẽ bị trấn áp hoặc biến dạng dưới “sức mạnh của Quỷ thần” ! Mà Quỷ thì không bao giờ đem đến sự an lạc…

    Reply
  • Chi Pheo

    Xưa có câu : Hãy đổ thêm dầu vào lửa, nay Bác ALan có câu : Hãy đổ thêm dầu vào đuốc
    Xưa bán rượu CUỐC LỦI, nay Bác ALan nhà ta bán rượu CUỐC TIẾN.
    1 2 3 zô !

    Reply
  • papillon

    Chào bác Alan,
    Cháu sẽ đón đọc bài viết của bác, mong bác sớm cho ra lò. Bạn bè của cháu, những người quanh cháu vẫn bảo là bác Alan nổ quá không thích, nhưng riêng cháu, cháu vẫn giữ vững lập trường của mình là thích cách hành văn của bác, thích quan điểm, cách sống, cách suy nghĩ của bác, cháu hay nói các bạn là đọc nhiều bài của bác Alan thì mới hiểu được, trong bài viết của bác đâu đó vẫn hiện ra được cái tâm của 1 người Phật tử thật sự nên cháu thật sự thích đọc, đọc để ngày này qua ngày kia cái tâm ấy nó thành là của mình. Bác Alan, cháu có biết bác Hồ Trọng Lai, bác ấy là thầy cháu đấy, bác đấy cũng hiền nên chắc là ảnh hưởng từ bác đó (ko có icon le lưỡi ở đây để cháu đưa vào).
    Chúc bác sức khoẻ! Trẻ mãi nhưng rồi cũng phải già.
    Ngọc Điệp

    Reply
  • tecu

    .. nói dài..nói dai.. đâm ra nói dại.

    Reply
    • Bà Tám

      @tecu: Ai nói dài? nói dai?….và nói dại? …..hồi đó TÊCU có học “chủ ngữ, vị ngữ” không?

      Reply
  • Ngây-Ngô

    Tôi đọc câu này của ông Alan: “Đất nước này còn nhiều ngọn lửa đang âm thầm cháy trong những đêm dài chờ sáng”, câu này đọc thấy ‘kêu’ quá, nhưng tôi không hiểu cái ý sâu đậm của ông. Theo tôi, ngoài công dụng trong kỹ nghệ, lửa chính ra dùng để nấu ăn, sưởi và soi sáng trong đêm tối. Ngọn lửa chờ trời sáng để làm gì? Nó phải làm cái công dụng của nó, nó phải phừng lên trong đêm tối soi sáng mới đúng. Phải chăng câu này có ý khuyến khích cái tinh thần ‘chờ thời’, ‘ỷ lại’. Nếu chúng ta không thấy cái chúng ta cần, chúng ta không hành động để đạt cái chúng ta mong muốn thì ai sẽ làm cho chúng ta? Chúng ta ngồi chờ trời mưa, ‘trời sinh voi, trời sinh cỏ’ chăng? Nếu chúng ta chờ dân nước khác làm cho chúng ta hưởng, thì lịch sử cho biết hậu quả rồi. Còn chờ nhà nước lo, thì chúng ta có sẵn sàng đóng thêm thuế không? Ngoài cha mẹ ra, không ai cho không một cái gì. Có lẽ ông phải khuyến khích mấy ngọn lửa đó tìm nhau, họp lại thành ngọn đuốc soi đường mới đúng. “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”.

    Còn nói về tôn giáo và kinh tế, không biết ông Alan muốn nhìn xa hay nhìn gần. Nhìn xa thì nhiều tôn giáo phát huy từ vài gốc mà thôi: đạo Thiên chúa, đạo Tin lành, đạo Hồi cùng gốc với đạo Do-thái, đạo Phật cùng gốc với đạo Ấn độ, vv, tôi chưa nói đến mấy đạo như Mormon, Cao Đài. Nhìn gần thì trong mấy đạo còn chia làm nhiều nhánh, tỉ du: đạo Hồi có Sunni và Shia, đạo Phật có tiểu thừa và đại thừa, đạo Thiên chúa có Roman Catholic, Eastern Catholic và Eastern Orthodox, Oriental Orthodox, Anglicans, Lutherans, vv trong cái suy nghĩ, ông Alan có muốn đi vào chi tiết không?

    Trở lại tôn giáo và kinh tế, chắc ông Alan cũng thừa biết kinh tế Hoa-Kỳ do một nhóm người theo đạo Do-Thái nắm. Và dân theo đạo này cũng chứng minh tài năng trên kinh tế Âu Châu cả mấy trăm năm trước đó. Tôi xin phép không nêu lên hậu quả do phản ứng của một số dân Âu đưa đến đệ nhị thế chiến. Sau đó, sự thành lập của nước Do-Thái và mọi chuyện ở đông âu đang sảy ra ngày nay.

    Cách đây mấy trăm năm, Ý cũng đã thông thương với Trung hoa. Tây ban nha và Bồ đào nha dùng đạo Thiên chúa để bành trướng kinh tế của họ.

    Viết về kinh tế và đạo Phật, xin ông đừng quên Nhật và Nam-Hàn. Ngoài ra, hai nước này cũng theo đạo Khổng, đạo này họ dạy chữ ‘Tín’, rất quan trọng trong ‘business’ ngày nay.

    Theo tôi nghĩ tôn giáo không phải là thông số (parameter) duy nhất trong vấn đề kinh tế, mà còn có xã hội, giáo dục, văn hóa (culture) và giá trị (values) của cả một dân tộc.

    Reply
    • JackZhang

      Hoan hô cho lời bình của nhà uyên bác ngây- ngô”đỉnh cao nhân loại” ….USA phải đổi tên thành Second Israel và phải viết ngay thư cho USA parliament.

      Reply
    • Minh Trung

      Vậy chắc chú ALAN phải đổi lại thành câu: “Đất nước này có những ngọn lửa đang ầm ầm cháy trong những trưa hè rực nắng” để thỏa mãn cho cái tâm lý không “chờ thời” của Ngây-Ngô ! Ngây-Ngô muốn “lửa” phải “cháy ầm ầm” :) (coi chừng có kẻ tạt nước đấy Ngây-Ngô). Thiên Thời, Địa Lợi, Nhân Hòa chứ không phải muốn sao thì muốn! Chú ALan nói vậy là quá chính xác rồi! ….biết người, biết ta…! Chú ALan chỉ mô tả “hiện tượng thực tại”, chứ không phải nói lên cái “mơ ước” của Ngây-Ngô là chắp nhiều cái đuốc lại cho sáng rực. Việc đó không phải của Chú ALan! Chú là Businessman!

      Reply
  • dunxenhia

    Chú Alan viết văn rất hay, chú có làm thơ không?!, có thể chia sẻ với mọi người- BCA .

    Reply
  • JackZhang

    Theo đó, ý niệm về Tôn Giáo là một ý niệm khởi nguyên từ khi có con người. Nó phát sinh một cách tự nhiên ( như những người chưa bao giờ biết đến sách Sáng Thế Ký) rồi được hệ thống hóa, biến thành lề luật sống. Hoặc là từ lề luật, ( qua sách Sáng thế ký), lệnh cấm ăn trái cấm, biến thành sự ràng buộc êm ái tôn trọng nhau. Cả hai đều quy về một mục đích duy nhất là giải thoát con ngưòi khỏi những gian trá, tội lỗi để đưa con ngưòi vào một cuộc sống an vui và đem lại hạnh phúc cho con ngưòi. Dẫu rằng lúc ấy con nguòi chưa đặt ra câu hỏi chết rồi mình sẽ đi đâu?
    Như thế, ý niệm về Tôn Giáo là một ý niệm tốt đẹp nhất cho con người. Vì từ ý niệm tôn giáo đã phát sinh ra ý thức Đạo Giáo. Đạo trở thành Đường , thành hướng đi phát khởi từ Tâm nguyện, rồi được xây dựng, hệ thống hóa thành Đạo để hướng, đưa con người tới đích Chân Thiện Mỹ. Tìm hướng xa lánh cái Ác và làm điều Thiện theo nhân bản. Nói cách khác, ý niệm Tôn Giáo chính là gốc sinh ra nền tảng của luân lý học, đạo đức học, Kitô học, Phật học, Khổng học , Nho học. Rồi thành Đạo, làm căn bản cho đời sống an vui của con người. Là một tài sản vô giá của nhân loại và là nền tảng của mọi tư duy lương thiện và hướng thiện. Nghỉa là, con người có tín ngưỡng là người đi theo một tôn giáo rồi nhờ đời sống Tôn Giáo hướng dẫn bản thân mình tìm đến đích Chân Thiện Mỹ. Hành sử Đạo trong tình Bác Ái, Hỷ Xả theo nhân bản tính tự nhiên hay lề luật. Từ đó, Đạo trở thành lẽ sống Nhân Bản của Con người. Đạo Có khả năng triệt tiêu những tệ nạn của xã hội, giảm thiểu những thói hư hèn của cá nhân và san bằng những bất công dối trá trong xã hội.
    Tuy nhiên, vào đầu thế kỷ 20, lý thuyết cộng sản và biện chứng duy vật ra đời đã làm chao đảo đời sống luân lý của xã hội. Nó đối nghịch trực tiếp với ý niệm về tôn giáo và lật ngược luân lý nhân bản xã hội. Coi tôn giáo (ý niệm thiện, ác) như chối bỏ sự hiện hữu của thần linh. Chủ thuyết này đã biến thành hệ thống lãnh đạo nhà nước cộng sản tại Liên Sô, mau chóng lan rộng ra khắp Âu Châu và có khả năng khống chế các quốc gia kém mở mang. Đến sau đệ nhị thế chiến, cộng sản đã gây được một thế lực hùng mạnh và có thể áp đảo thế giới bằng những khẩu hiệu như “ tiến lên thế giới đại đồng” nghe ra rất dễ lôi cuốn những quốc gia chưa phát triển tham gia vào vùng ành hưởng và thần phục chủ thuyết này. Kết qủa, vì chối bỏ ý niệm thiện, ác trong tôn giáo, xa rời nền luân lý, đạo đức xã hội, chủ thuyết này sớm bộc lộ nét vô đạo trong những cuộc tàn sát mang tính cách diệt chủng vói nhân loại ngay tại gốc sinh là Liên Sô và sang đến Tây Ban Nha (1931) và các quốc gia Đông Âu.
    Ngày nay xứ này thì theo nguyên tắc, tất cả các dịch vụ hành chánh đều mở ngõ cho mọi ngưòi, nên khi cần chuyện gì thì đương sự phải có đơn xin. Đơn xin trong trường hợp này chỉ là những thủ tục thông thường. Thí dụ như xin giấy khai sinh, khai tử, xin giấy hôn thú, xin kết hôn, xin xuất cảnh, xin việc làm…. Và sự thường là các loại giấy tờ này đều có thời hạn để giải quyết. Riêng các đơn xin có liên hệ đến sinh hoạt của các tôn giáo như xin xây nhà thờ, cơ sở, xin tuyển sinh, xin phong chức cho ngưòi đã đủ điều kiện thì cái thời gian “cho” nó giống như sợi giây thung. Thích thì địa phương xét sớm, trường hợp cần thêm tiền lót tay, hay các mưu toan mờ ám thì cứ ngâm tôm. Thời gian ngâm tính tháng hay năm, không thính theo ngày! Trong thời gian bị ngâm cũng chính là lúc các khẩu lệnh và điều kiện ngầm được các cán bộ nhà nước từ trung ương cho đến địa phương triệt để áp dụng, trao đổi để đưa đến chữ nhà nước “cho”. Đó là nguyên tắc, là luật của XHCN
    Trong khi đó, sinh hoạt của tôn giáo không hề tách rời ra khỏi đời sống xã hội và con người. Trái lại, còn đi sâu vào trong lòng xã hội để truyền rao Chân Lý, Sự Thật, nên các chức sắc trong các tôn giáo tại xứ này, đều bị áp chế bởi thủ thuật xin phép của “luật”. Nó chính là cái lưỡi câu, là cái chìa khoá, có kịch độc dùng để tiêu diệt sự đạo hạnh chân chính của tôn giáo, và là đòn buộc tôn giáo phải nâng cấp cái phẩm cách gian dối, bất lương lên ngang hàng với những đạo đức của xã hội. Hoặc kéo tôn giáo xuống ngang hàng cái gian dối của cái XHCN. Đó là cái gía quá đắt, ai cũng biết, nhưng các tôn giáo ở đây lại không thể vượt thoát ra ngoài cái thủ thuật vô đạo “luật xin phép” của NN…Câu trả lời của Mark-Lenin là: “Chỉ trong xã hội cộng sản chủ nghĩa phát triển thì tôn giáo mới có thể hoàn toàn biến mất và bị xoá bỏ khỏi đời sống con người. Nhưng việc tôn giáo mất đi không phải là một quá trình tự động; nó đòi hỏi phải kiên trì hoạt động giáo dục quần chúng, tuyên truyền rộng rãi những hiểu biết khoa học tự nhiên, xã hội và thế giới quan mác-xít “ (Từ điển Triết học, tr.588, từ mục “Tôn giáo”).
    Bàn về chuyện này trong cuốn “Quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin về giải quyết vấn đề tôn giáo trong chủ nghĩa xã hội đã viết: “Tôn giáo là một hệ tư tưởng mang tính chất duy tâm, do đó về bản chất nó có thế giới quan, nhân sinh quan trái ngược hoàn toàn so với quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin là quan điểm duy vật biện chứng khoa học. Bởi vậy, để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội không thể nào không xoá bỏ tôn giáo”…(continue)

    Reply
  • JackZhang

    tiếp…Để chứng minh cho Tôn Giáo xứ này là không gắn liền với đường lối Kinh Tế của NN bởi vậy họ đã xử dụng cụm từ”Kinh tế Thị Trường định hướng XHCN” Chúng cần tách bạch hai vấn đề Tôn Giáo và Kinh Tế vì XHCN không phải là Tôn Giáo. Như đã dẫn CN Marx Lenin là chống Tôn Giáo. Con đường định hướng XHCN này là chiểu theo học thuyết Marx.

    Còn Tôn Giáo xứ này dựa trên học thuyết Marx/Lenin: Nguồn gốc tôn giáo: tôn giáo là lối thoát của kẻ nô lệ. Lenin viết, “Tôn giáo là á phiện đối với con người. Tôn giáo là một loại rượu tâm linh, trong đó những người nô lệ của chế độ tư bản nhận chìm gương mặt nhân bản của mình, [và đánh chìm luôn] nhu cầu về một cuộc sống ít nhiều xứng đáng với con người – Religion is opium for the people. Religion is a sort of spiritual booze, in which the slaves of capital drown their human image, their demand for a life more or less worthy of man.”
    Với bút pháp sắc sảo, Lenin khẳng định bốn điều về nguồn gốc tôn giáo:
    a. Vì sống lầm than mà người nô lệ tìm đến tôn giáo
    b. Tôn giáo không giải quyết được khổ đau, mà chỉ là một loại bùa mê quên đau
    c. Khổ đau thực sự không biến mất, mà người khổ (nô lệ ) bị chết chìm trong mê hoặc, mất cả bản thân như một con người, mà tan cả giấc mơ giải thoát
    d. Điều thứ tư, và quan trọng nhất, được xác định trong một đoạn riêng, “Vì bất lực trong cuộc chiến đấu chống bóc lột, giai cấp bị bóc lột mới có phản ứng không tránh được là tin vào một cuộc sống tốt đẹp hơn sau khi chết – Impotence of the exploited classes in their struggle against the exploiters .. inevitably gives rise to the belief in a better life after death”. Kết luận này chuẩn bị cho vai trò cứu tinh của Đảng CS.

    2. Tại sao giai cấp bóc lột cũng theo đạo và sùng đạo? Trước câu hỏi này, Lenin đáp, “Họ được tôn giáo dạy rằng thực hành bác ái trên trần thế là cách rất rẻ tiền để biện minh cho toàn bộ sự hiện hữu của mình như những kẻ bóc lột và như vậy họ mua được cái vé hạnh phúc trên thiên đàng với giá hời – They are taught by religion to practise charity while on earth, thus offering them a very cheap way of justifying their entire existence as exploiters and selling them at a moderate price tickets to well-being in heaven.”
    Đối với Lenin, các hoạt động từ thiện, bố thí, cúng dường, từ bi, bác ái… chỉ là mua vé Thiên đàng hoặc Niết-bàn. Không có tình người nơi người làm việc bác ái.
    3. Nếu thế, tôn giáo có ích? Ít nhất tôn giáo cũng giúp ích trong việc gây mê, không đau? Lenin trả lời KHÔNG. Theo đạo là quàng vào cổ mình cái ách do những kẻ bóc lột làm ra, “Cái ách tôn giáo đè nặng trên nhân loại chỉ là sản phẩm và phản ảnh của cái ách kinh tế đặt trên xã hội – the yoke of religion that weighs upon mankind is merely a product and reflection of the economic yoke within society.”
    Những nhà lãnh đạo xứ này đang đi theo con đường này, việc quản lý KinhTế cũng con đường này và thêm “Sáng tạo có Định hướng” Vậy Thị Trường có phải là Sáng kiến? Không_nó là quy luật tất yếu phát triển Xã Hội.
    CSVN, đi ngược với giáo huấn Marx/Lenin, ban hành ba văn kiện để quy chế hóa tôn giáo, đó là
    Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo, số 21/2004/PL-UBTVQH11
    Nghị định Hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng, Tôn giáo, số 22/2005/CP
    Quyết định về Ban Tôn giáo Chính phủ, số 134/2009/QĐ-TTg
    Để nhận định về điều này Luật sư Trần Thanh Hiệp nhận xét: “Pháp lệnh này có 41 điều thì 37 điều dành cho việc qui chế hoá quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và 4 điều cho việc thi hành pháp lệnh. Trong số 37 điều kể trên, chỉ có 1 điều độc nhất là không thấy có vết tích gì của sự hạn chế. Đó là điều 1. Còn 36 điều còn lại thì được dùng để bao vây, bào mòn, thậm chí mượn pháp lý để vô hiệu hoá công khai và hợp pháp, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Những gì chưa bị vô hiệu hoá, còn sót lại chút đỉnh thì lại phải theo chế độ ‘xin phép trước’, mà các nước tiên tiến trên thế giới đã phế bỏ từ mấy thế kỷ nay… Nói tóm lại, pháp lệnh 18-6 là một văn bản pháp lý phản nhân quyền, dân quyền, phản tiến bộ.” Ông nói tiếp: “Nếu cái sản phẩm mà Uỷ ban Thường vụ đã nặn ra ngày 18-6-2004 không được thu hồi trước khi nó có thể tác hại thì từ ngày 15-11 trở đi, vĩnh biệt tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam”
    Tất cả mọi người Việt nam đều biết phân biệt sự thiện và ác trong việc làm, lời nói của mình, và thường có khuynh hướng xa lánh cái gian ác hay không? hầu hết ngưòi Việt Nam là người có tín ngưỡng hay không?
    Đúng thế. Chắc chắn là thế và còn cao hơn thế nữa. Tất cả mọi người Việt Nam đều có tín ngưỡng, có tinh thần tôn giáo và có ý niệm về tôn gíao rất sâu sắc. Đa phần người Việt Nam theo đạo ông bà, kế đến là đạo Phật, đạo Công Giáo, đạo Tin Lành, đạo Cao Đài, đạo Phật Giáo Hòa Hảo, hay đạo Bà lamôn (gốc Chàm). Không ai là không có đạo. Không làng nào mà không có Đình, Chùa, nhà thờ, Thánh Thất, hay các cơ sở trang nghiêm để thờ thần hoàng, hay thờ cúng ông bà tại nhà. Rồi dọc trên các đường quốc lộ không thiếu những cái miếu nhỏ với hương đèn trong các ngày rằm, ngày đầu năm. Và các nghĩa địa thì lúc nào cũng ngập hương khói…Vậy chuyện nghịch thường đã xảy ra. Trong tất cả mọi bản lý lịch cá nhân của các đoàn đảng viên, từ ông quan lớn trở xuống cho đến anh cán tại cơ sở. Từ những nhà trí thức cho đến lớp cán bộ chỉ biết dùng dao mã tấu, trong phần hỏi về tôn giáo đều ghi một chữ KHÔNG. Nghĩa là không có đạo, không có tín ngưỡng, không theo một tôn giáo nào.Họ khai như thế có nghĩa gì? Có phải những ngưòi viết bản lý lịch này đều là những người không có đạo, không theo bất cứ một tôn giáo nào ư? Hay họ đã bị buộc phải gian dối với chính mình và từ đó gian dối với người khác theo chủ trương vô tôn giáo? Thử hỏi, nếu một kẻ đã phải gian dối với chính mình thì làm sao tìm ra lời nói và việc làm trong sự thật cho người khác hưởng nhờ? Họ đã chối lý lẽ về thiện ác, về phong cách nhân bản tính làm người thì tìm đâu ra chân lý cho xã hội?
    Và những con người này đang xây dựng kinh tế ngày nay…Xin các bạn BCA hảy nghiên cứu và tranh luận tiếp…đề tài này

    Reply
    • Tịnh Tâm

      Khi đạng đã lên nòng, thì bắng bằng tên lửa luôn !

      Lâu nay thường thấy chú bắng súng lục của Cao bồi viễn tây, chừ mới thấy chú ra tay đó nghe. Kiểu bài tham luận thế này thì bọn cháu chỉ biết đọc mà học thôi, chứ làm sao tranh luận.

      Những đảng viên đầy một bụng học thuyết Mark – Lê – Hồ thì không được vào đây đọc, mà nếu có “lén đọc” thì cũng để đó rồi tự chưởi một câu “thằng này không biết gì mà cũng viết lung tung!”, chứ làm gì dám viết bài để lỡ bị phát hiện thì bị “kiểm điểm” không chừng mất cả chức chứ có phải chuyện “chơi” như chú cháu mình đâu !

      Chúc chú có nhiều phút trải lòng, để có nhiều lần “phóng tên lửa” sâu sắt như thế này. Cám ơn chú nhiều.

      Reply
      • JackZhang

        chú chưa mượn súng của ai bao giờ…súng của chú mà…chỉ tội cái cũ mèng.

        Reply
    • BLoc

      Cám ơn anh về bài viết, Tôi chỉ hiểu được một nét nhỏ ở bài của anh là: Nói phải đi đôi với làm,

      + Các Tôn giáo dạy người dân: Hãy cho đi, từ bỏ đi sẽ nhận được nhiều hơn ở đời này và cả ở trên Trời. Nhiều người làm theo và cả “người dạy” cũng làm theo nên xã hội có cái bình an, yên vui cho dù vật chất có lúc thiếu tốn, nhưng niềm tin về tình người thì luôn dồi dào.

      + Các chủ nghĩa, nhất là CNXH dạy người dân: CNTB dạy: Hãy cố mà làm ra nhiều của cải, rồi hưởng cái mình làm ra, có dư mới cho người được, cái này có vẽ hợp tự nhiên “Vật chất hứa hẹn vật chất”. Riêng CNXH, CNCS thì khuyên làm cho thật nhiều, lo cho người trước rồi mới đến mình để được “khen thưởng”, Nhiều người và cả “người dạy” chỉ làm làm phần đầu còn phần sau thì làm ngược lại, nó không có quy luật “Vật chất hứa hẹn tinh thần”.

      Lời nói của tôn giáo dựa trên tinh thần để hứa hẹn phần thưởng về tinh thần, nên mới có kết quả: tình người có mặt khắp nơi. Còn các chủ nghĩa, nhất là CNXH, CNCS thì dựa trên vật chất để hứa hẹn phần thưởng tinh thần nên chỉ đạt được sự gian dối, niềm tin về tình người không còn.

      Reply
      • JackZhang

        Anh Bloc thân mến, cảm ơn có nhã ý và cho lời bình. Tôi cóp nhặt đôi điều mắt thấy tai nghe và cũng đã sờ mó qua (những công việc từng trải qua)trên xứ này…chỉ thêm chút nét nhỏ đóng góp cho NHÂN BẢN mà xứ này thiếu …TỰ DO

        Reply
    • hoanguyen

      Bác viết kinh thật, em đọc mà thở không kịp. Em thích câu này: ” Họ đã chối lý lẽ về thiện ác, về phong cách nhân bản tính làm người thì tìm đâu ra chân lý cho xã hội?”. Vâng, hãy khoan nói cụ thể một tôn giáo nào. . .các bạn lật xem lại thẻ căn cước của mình đi. . .chữ Không to tướng ở phần tôn giáo. . .suy nghĩ cho thiệt kỹ. . .mình đang phủ định cái gì???

      Bác làm em nhớ tới một đoạn của sử gia Will Durant khi bàn về đạo Khổng: “một lần nữa trong lịch sử, ta lại thấy một sự hùng tâm gắng sức nhân bản hóa cái bản tính man rợ của loài người, như đã từng thấy trong đạo Phật và Ki-tô”

      Reply
  • HaiAu

    I like your VinaBull.com with cute animal friendly logos on the right hand side, a business with the trademark of a bull, an animal farm of fun :-)
    And I would like to apply for a position in “Friends of M. & A.” (blue pig) for Music & Mother, Money & Apple or M. & Alan, etc. Whatever you would like to name it ;-)

    Religion is difficult to discuss but easy to hurt others and to be hurt since we are different.
    The only thing we found in God and Bodhisattva is Love and devotion.
    It’s the time for you to enjoy being back home sometimes to motivate the youth and share with them your advises but stop being the Shark in the small tank. You will be loved and missed.

    Reply
  • rockhead

    Đôi lời cùng bạn meolat .. bạn nên có 1 hướng về “Đạo” tức Tâm linh sâu xa hơn là Tâm thức và Hồn. Như tôi hiểu Tôn giáo chỉ là 1 tổ chức …………… ở VietNam hôm nay có 1 loại tôn giáo đã làm nhục quê hương ,đất nước và con người ,cũng mong bạn nhìn thấy điều này .Chúc bạn vui

    Reply
  • Lạc Việt

    Tất-đạt-đa Cồ-đàm là tên phiên âm từ tiếng Phạn Siddhārtha Gautama của vị Phật lịch sử Thích-ca Mâu-ni. Sau nhiều năm tu khổ hạnh gần kề cái chết, Tất-đạt-đa nhận ra đó không phải là phép tu dẫn đến giác ngộ. Sau đó Tất-đạt-đa ăn uống bình thường trở lại, đến Giác Thành, ngồi dưới gốc một cây Bồ-đề ở Bồ Ðề Ðạo Tràng (Bodh Gaya) và nguyện sẽ nhập định không rời chỗ ngồi cho đến lúc tìm ra nguyên nhân và cơ chế của Khổ. Sau 49 ngày thiền định, Tất-đạt-đa đạt giác ngộ hoàn toàn ở tuổi 35. Như vậy bí quyết để giác ngộ của ngài đó là THIỀN, không thông qua kinh sách hay bất cứ phép tu tập nào khác. Theo hướng này tôi xin được nêu lên một số quan điểm về THIỀN.

    Tiến sĩ khoa tâm lí học kiêm Thiền sư người Anh David Fontana viết tóm tắt rất hay về thế nào là Thiền và thế nào là Phi thiền: “Thiền không có nghĩa là ngủ gục; để tâm chìm lặng vào cõi hôn mê; trốn tránh, xa lìa thế gian; vị kỉ, chỉ nghĩ tới mình; làm một việc gì không tự nhiên; để rơi mình vào vọng tưởng; quên mình ở đâu. Thiền là: giữ tâm tỉnh táo, linh động; chú tâm, tập trung; nhìn thế giới hiện hữu rõ ràng như nó là; TRAU DỒI TẤM LÒNG NHÂN ĐẠO; biết mình là ai, ở đâu.” Trong một ý nghĩa bao quát, Thiền là một trạng thái tâm thức không thể định nghĩa, không thể miêu tả và phải do mỗi người tự nếm trải.

    Trong nghĩa này thì Thiền không nhất thiết phải liên hệ với một tôn giáo nào cả — kể cả Phật giáo. Trạng thái tâm thức vừa nói đã được các vị thánh nhân xưa nay của mọi nơi trên thế giới, mọi thời đại và văn hoá khác nhau trực nhận và miêu tả bằng nhiều cách. Đó là kinh nghiệm giác ngộ về thể sâu kín nhất của thật tại, nó vừa là thể của Niết-bàn – Thiên đường và vừa của Luân hồi, sinh tử. Vì vậy, Toạ thiền không phải là một phương pháp đưa con người đi từ vô minh đến giác ngộ, mà là giúp con người khám phá bản thể thật sự của mình đang mỗi lúc hiện diện. Phật Thích Ca, Jesus, Muhammad, Lão Tử và có lẽ cả Khổng Tử, Lạt Ma, Đạo sư… trong một chừng mừng nào đó thông qua THIỀN nên đã chứng ngộ.

    Có thể hiểu đó là trạng thái thiền định sâu (xô ma chi), khi tuệ nhãn (con mắt thứ ba) được khai mở. Ngày nay loài người khó đạt được trạng thái xô ma chi hoặc nếu có thì không được lâu do bị chi phối quá nhiều bởi tâm năng tiêu cực. “Con mắt thứ ba” là một bộ phận của não bộ. Nếu não tháo lơi các trường xoắn của tâm hồn thì “con mắt thứ ba” điều chỉnh phần cấu thành tâm hồn sang tần số của các trường xoắn. Một trong những chức năng quan trọng là chức năng trí tuệ, tức điều chỉnh sang tần số liên lạc với Đấng Trí Tôn (Trường thông tin toàn thể – Tri thức vũ trụ).

    Có thể chia thiền ra ba giai đoạn:
    1. Sơ thiền : khi đạt được đạo lý sâu sắc
    2. Định (tức xô-ma-chi) : khi hồn lìa thân thể chuyển sang trạng thái bất động rắn như đá. Quá trình trao đổi chất hạ xuống không. Bí quyết là nước trong cơ thể.
    3. Bát nhã : khi đạt được sự anh minh chân chính trong ý thức về sự sống trong vũ trụ.

    “Trong học thuyết về xô-ma-chi có thuật ngữ “OBE” (Out of Body Experience) có nghĩa là “kinh nghiệm ngoài thân xác”, người ta có thể quan sát thân thể mình từ ngoài. Ở trạng thái xô-ma-chi phần linh hồn ở ngoài, dường như bên cạnh thân xác. Linh hồn là một phần năng lượng vũ trụ và nó nằm trong một không gian được vạch riêng. Năng lượng linh hồn đó là năng lượng ở ngoài êlectron và proton. Có tâm năng tích cực và tâm năng tiêu cực, chúng gắn liền với nhau. Tâm năng có thể sáng tạo và có thể tàn phá. Cái ác và cái thiện song hành.

    Kết luận:

    Phật tổ Thích Ca sau 49 ngày Thiền định dưới gốc cây bồ đề đã giác ngộ thành phật. Theo tôi đó là khi tuệ nhãn (con mắt thứ ba) được khai mở, thể tâm vượt qua được giới hạn của không gian và thời gian. Kiến thức thu lượm được là do kết nối với kho dữ liệu Vũ trụ, giống như máy tính được kết nối vào mạng Internet. Ở đây là UniversalNET??? Do vậy đã quay về được qua khứ, biết hiện tại và tương lai (về lý thuyết khoa học cỗ máy thời gian là hoàn toàn có thể – thời gian nhanh hay chậm hay dừng tức thời gian giãn nở…). Biết được các kiếp và đời sống trước của mình. Thuyết nhân quả – nghiệp có thể từ đó mà ra. Tuy nhiên câu hỏi được đặt ra là: Nếu linh hồn là một bộ phận của năng lượng vũ trụ tức là có thể tồn tại vĩnh viễn thì tại sao cần phải luôn hồi? Tôi cho rằng vật chất luôn tiến hóa và biến đổi thì ắt linh hồn cũng có nhu cầu trải nghiệm để làm giầu thêm trường thông tin toàn thể (cõi kia).

    Cháu đã lan man hơi nhiều và lạc đề mong chú Phan và các bạn hữu không chê: Cầm đèn chạy trước ô tô. Lần comment tiếp theo cháu xin mạn đàm đôi chút về Thiền phái Trúc Lâm – Tuệ Trung Thượng Sĩ – Tư tưởng Trần Nhân Tông.

    Reply
    • Lạc Việt

      I. SƠ LƯỢC VỀ THIỀN TÔNG TRUNG QUỐC

      Thiền tông Trung Quốc có nhiều cách phân chia nhưng để giản lược có thể chia làm hai mốc quan trọng:

      1. Thiền tông từ Bồ Đề Đạt Ma đến Huệ Năng

      Thiền tông Trung Quốc thường ghi nhận Bồ Đề Đạt Ma, nhà sư từ Nam Ấn Độ đến Trung Quốc năm 520 là vị tổ thứ nhất. Từ Bồ Đề Đạt Ma đến Huệ Năng đã trải qua bốn tổ: Tuệ Khả, Tăng Xán, Đạo Tín, Hoàng Nhẫn. Nổi bật là phép tọa thiền Bích quan (nhìn vào vách). Đối với Bồ Đề Đạt Ma, Bích quan là phương pháp để Lý nhập, tức khám phá ra chân lý. Như vậy là coi trọng tọa thiền, và Thiền tông được đặt tên theo ý này. Trong thời kỳ này kinh điển Phật giáo được sử dụng chủ yếu là kinh Già lăng. Đó là kinh điển của Hữu Tông Đại Thừa, tức trường phái triết học Phật giáo yogacara ở Ấn Độ, do Asanga và Vasubandhu sáng lập. Trường phái này đưa ra học thuyết Thức luận, chỉ thừa nhận sự tồn tại của ý thức (Vinjnana), phủ nhận sự tồn tại khách quan của thế giới vật chất. Đồng nhất Phật tính với Nhân tâm là một luận điểm cơ bản của Thiền tông. Do vậy chủ trương “trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật” có nghĩa là: hướng vào nội tâm, có thể tìm thấy Phật tính và qua đó để giác ngộ.

      2. Thiền tông sau Huệ Năng

      Đến Huệ Năng thì tọa thiền không còn được coi trọng, thậm trí ông phản đối tọa thiền. Trong Đàn kinh Huệ Năng nêu rõ quan điểm: “Đạo do tâm ngộ, khởi tọa dã – Đạo do tâm giác ngộ đâu phải vì ngồi”. Huệ Năng còn có bài kệ rằng:
      Sinh Lai tọa bất ngọa
      Tử khứ ngọa bất tọa
      Nhất cụ xú cốt đầu
      Hà vi lập công khóa.

      Sống không nằm, ngồi lì
      Chết không ngồi, nằm ì
      Một bộ xương hôi thối
      Nào lập được công chi

      Không những thay đổi về phương pháp tu tập tọa thiền mà Huệ Năng còn đi xa hơn là thay đổi quan trọng về tư tưởng. Ông quay sang lấy kinh Đại Bát nhã đa la mật làm kinh điển chủ yếu. Một bộ phận của kinh Bát nhã là kinh Kim cương được dùng phổ biến hơn cả. Kinh Bát nhã là kinh điển của Không tông Đại thừa xuất phát từ trường phái Madhyamika do NagarJuna sáng lập ở Ấn Độ. Trường phái này đưa ra học thuyết không luận (Sunya-vada), chẳng những phủ nhận sự tồn tại của vật chất mà còn phủ nhận sự tồn tại của ý thức. Theo NagarJuna, thế giới vốn là một sự trống rỗng, hư không được gọi là sunua. Do vô minh mà ý thức và sau đó là vật chất hiện ra. Khi xuất hiện một trí tuệ siêu việt Prajna – phiên âm: Bát nhã, dịch: Tuệ, thì thế giới đó sẽ tan biến đi thành hư không (Sunya). Như vậy Huệ Năng đã chuyên từ Hữu tông sang Không tông, đi sâu vào luận điểm Bát nhã. Từ đó, các Thiền sư trông chờ vào một thứ Bát nhã trực giác, khi ánh sáng của Bát nhã vụt léo lên chính là lúc giác ngộ – kiến tính thành phật. Khái niệm Đốn ngộ để chỉ điều đó. Khi Thiền tông phát triển Bát nhã việc phản đối phương tiện ngôn ngữ được đẩy mạnh.

      II. MỘT SỐ DÒNG THIỀN DU NHẬP VÀO VIỆT NAM

      1. Dòng Thiền do nhà sư Tì-ni-da-lưu-chi (Vinitaruct, Diệt Hỷ) mở đầu năm 520
      2. Dòng Thiền do nhà sư Vô Ngôn Thông mở đầu năm 820
      3. Dòng Thảo Đường thời Lý Thánh Tông du nhập từ Champa

      Sự khác biệt đáng kể của dòng Thiền Tì-ni-da-lưu-chi và Vô ngôn thông chính là thời điểm và tư tưởng. Tì-ni-da-lưu-chi là đồ đệ của Tăng Xán, tổ thứ thứ 3 của Thiền tông Trung Quốc trước Huệ Năng, còn Vô Ngôn Thông là đồ đệ của Bách Trượng Hoàng Hải trong phái Nam Nhạc, tức trưởng phái Thiền tông sau Huệ Năng 2 thế hệ. Tuy vậy Thiền cũng ảnh hưởng lẫn nhau và cả từ Mật tông. Đồng thời tiếp nhận một số tín ngưỡng dân gian và tư tưởng Khổng, Lão… tôi không có điều kiện nói rõ hơn.
      Thi hào Nguyễn Du từng viết:
      Ngã độc Kim cương thiên biến linh
      Kỳ trung áo chỉ đa bất minh
      Cập đáo phân kinh thạch đài thọ
      Tài tri vô tư thị chân kinh.

      Nghĩa là: Ta đọc kinh Kim cương cả ngàn lần, những ý chỉ sâu kín trong đó có nhiều chỗ không hiểu được. Mãi tới khi đến đài đá chia kinh này, mới biết rằng kinh không chữ là kinh chân chính.

      III. THIỀN PHÁI TRÚC LÂM YÊN TỬ

      Tổ thứ nhất của Thiền Trúc Lâm là Phật hoàng Trần Nhân Tông, tổ thứ hai là Pháp Loa Đồng Kiên Cương, tổ thứ ba là Huyền Quang Lý Đạo Tái. Để tìm hiểu Thiền Trúc Lâm ta không thể không nghiên cứu tư tưởng của hai vị Quốc sư Phù Vân và Tuệ Trung Thượng Sĩ.

      1. Quốc sư Phù Vân
      Khi vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh) lên núi Yên Tử yết kiến Quốc sư Phù Vân đã đưa ra lời thỉnh cầu: “Trẫm muốn vào núi chỉ cầu làm Phật, chứ không cầu gì khác”. Quốc sư Phù Vân đáp: “Núi vốn không có Phật, Phật chỉ có ở trong tâm, tâm lặng lẽ mà biết, ấy là chân Phật. Nay nếu bệ hạ giác ngộ được cái tâm ấy thì lập tức thành Phật, không phải khốn khổ cầu tìm bên ngoài”. Trần Thủ Độ cũng thuyết phục thêm nhưng Trần Thái Tông chưa chịu. Sư Phù Vân nói tiếp: “Bậc quân vương phải lấy sở thích của dân làm sở thích của mình, lấy lòng dân làm lòng mình”. Qua đó ta cũng thấy được tư tưởng Thiền, đặc biệt Thiền nhập thế đã thể hiện rõ nét.

      2. Tuệ Trung Thượng sĩ

      Tuệ Trung Thượng Sĩ là pháp danh của Hưng Ninh Vương Trần Tung (anh trai Trần Hưng Đạo) người anh hùng đã lập nhiều chiến công trong các cuộc vệ quốc chống Nguyên Mông năm 1285 và 1288. Trong sách Tuệ Trung Thượng Sĩ ngữ lục có chép: “Một hôm Thái hậu Thiên Cảm, em ruột của Thượng Sĩ làm tiệc chiêu đãi. Trên bàn tiệc Thượng Sĩ ăn cả thịt, Thái hậu lấy làm lạ bèn hỏi: Anh bàn chuyện Thiền mà lại ăn thịt sao thành Phật được? Thượng Sĩ cười đáp: Phật là Phật, anh là anh, anh không muốn làm Phật, Phật cũng chẳng muốn làm anh. Bậc tu xưa đã chẳng nói: Văn Thù là Văn Thù, giải thoát là giải thoát đó sao?” Cũng như các Thiên sư khác, ông cũng coi Tâm là Phật. Bài thơ Phật Tâm ca đã thể hiện rõ thế giới quan của ông:
      Nhật nhật đối cảnh thì
      Cảnh cảnh tòng tâm xuất
      Tâm cảnh bản lai vô
      Xứ xứ Ba-la-mật

      Tạm hiểu: Hàng ngày ta đối diện với cảnh, tức thế giới hiện tượng. Nhưng thế giới hiện tượng đó từ tâm, tức ý thức mà sinh ra cả. Nhưng cảnh hiện tượng và ý thức vốn đều hư không cả. Khắp mọi nơi đều là Ba-la-mật. Ba-la-mật (Paramila) ở đây là Bát nhã ba-la-mật (Prajnaparamila). Nghĩa là chỉ với Bát nhã (Tuệ) mới biết được tất cả là hư vô. Tư tưởng này gần gũi với quan điểm Madhyamika (Trung luận) của Nagarjuna ở Ấn Độ (phủ định sự tồn tại của cả ý thức và vật chất), tuy nhiên đó mới chỉ là khởi đầu. Từ chỗ coi tâm và cảnh đều hư không, Tuệ Trung cho rằng không nên đối lập tâm và cảnh, cũng là từ bỏ mọi đối lập khác: mê và ngộ, phàm và thánh, chân và vọng: trong bài Phật tâm ca có câu: “Xả vọng tâm thủ chân tính. Tự nhân ảnh nhi vong kinh – Bỏ tâm vọng mà giữ tình chân, thì cũng như người tìm bóng mà quên mất gương”, giữa phiền não và bồ đề: trong bài Vạn sự như quy có câu: “Phiền não, bồ đề nguyên bất nhị – Phiền não và bồ đề vốn không phải là hai”… Phải bỏ sự đối lập đi thì mới thật sự là giác ngộ:
      Đãn năng vong nhị kiến
      Pháp giới tận bao dung

      Nếu như phủ định cả tâm thì Phật là gì? Tuệ Trung: “Tích vô Tâm, kim vô Phật – Xưa không tâm, nay không Phật”. Nhưng khi tâm và cảnh đã hiện ra, ta và thế giới hiện thực đã có, thì Phật là gì? Phật tâm ca có đoạn:
      Vạn pháp chỉ tâm tức phật tâm
      Phật tâm khước dữ ngã tâm hợp
      Pháp nhĩ như nhiên hoàn cổ kim

      Tạm hiểu: Tâm của vạn pháp là tâm của Phật. Tâm của Phật lại phù hợp với tâm của ta. Phép ấy vẫn tự nhiên như vậy từ xưa đến nay. Suy ra Tâm vạn pháp (tâm vận vật) = Tâm Phật = Tâm Ta. Mặt khác ông còn nói: “Xuân đến thì tự nhiên hoa xuân tươi nở. Thu sang ắt hẳn là nước thu tràn đầy”. Đưa tâm mình đến với tâm vạn vật (qui luật tự nhiên) thì tức là tâm Phật. Như vậy nguyên tắc quan trọng mà Tuệ Trung Thượng Sĩ đã đúc kết lại là: Hãy sống theo quy luật tự nhiên thì mới là giác ngộ, mới thành Phật. Ông còn giải thích thêm: “Ăn cỏ hay ăn thịt, là các loài khác nhau của sinh vậy, điều đó cũng tự nhiên như mùa xuân đến thì cây cỏ mọc lên, sao lại coi là tội hay phúc trong việc ăn cỏ hay ăn thịt được. Giữ điều răn (trì giới, si la) và nhẫn nhục (ksanti) là hai điều trong lục độ Đại thừa, chỉ đem đến tội chứ không đem lại phúc. Giữ như vậy cũng như người trèo lên cây, đang yên lành dưới đất lại tìm cái nguy hiểm, nếu không thì có gió lay đi nữa cũng chằng việc gì”. Do vậy có thể nói Thiền nhập thế là một đặc trưng của Thiền Trúc Lâm. Như chúng ta biết tư tưởng Tuệ Trung Thượng Sĩ có ảnh hưởng rất lớn đến Trần Nhân Tông và nhị tổ sau này. Người mà Trần Nhân Tông nhận là vị thầy khai sáng cho tâm mình. Sau này Pháp Loa đã chính tay biên tập bộ Thượng Sĩ ngữ lục và Trần Nhân Tồn đã viết phần Thượng sĩ hành trạng. Tìm đến với qui luật tự nhiên, hãy sống hòa với đời một cách thoải mái từ đó vẫn có thể giác ngộ là một nguyên tắc căn bản của Thiền Trúc Lâm. Thể hiện qua bài kệ kết thúc Cư trần lạc đạo:
      Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
      Cơ tắc xan hề khốn tắc miên
      Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch
      Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền

      Thiền nhập thế – thiền mọi lúc mọi nơi mọi suy nghĩ hành động đều dương cao ngọn cờ hướng THIỆN, dù là lúc hoạn nạn khó khăn hay binh đao chiến tranh vẫn có thể thiền. Được như vậy theo quan niệm của Khổng Tử đã là bậc đắc đạo rồi đó. Với tư tưởng HÒA QUANG ĐỒNG TRẦN, hòa vào đời sống, sống đúng theo qui luật tự nhiên, rung động trước cảnh sắc thiên nhiên thể hiện đẹp đẽ qua các bài thơ thiền. Không chỉ thưởng ngoạn thiên nhiên tươi đẹp mà họ còn lăn xả vào cuộc sống. Khi kẻ thù xâm phạm Tổ quốc, họ đã lên ngựa, vung gươm như những người anh hùng nhất. Thật xứng đáng là tấm gương cho muôn đời con cháu. Để cho “non sông một thuở vững âu vàng”. Phật tâm ca có đoạn:
      Hành diệc thiền, tọa diệc thiền
      Nhất đóa hồng lô hỏa lý liên
      Tạm hiểu:
      Đi cũng thiền, ngồi cũng thiền
      Trong lửa lò hồng một đóa sen

      Từ chỗ “lấy sở thích của dân làm sở thích của mình, lấy lòng dân làm lòng mình” đã đi vào hành động qua Hội Nghị Bình Than, Hội Nghị Diên Hồng. Kết quả là ba lần đại thắng quân Nguyên Mông xâm lược. Một minh chứng cho cái THIỆN đã chiến thắng. Trần Nhân Tông có nói về những người hầu cận: “Ngày thường thì bao nhiêu người hầu hạ xung quanh, đến khi nước nhà gặp nạn chỉ có bọn họ thôi”. Trần Hưng Đạo cũng nói: “Thả sức cho dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy”. Thiền Trúc Lâm đã tô đậm nét “dân ái” lên nền “nhân ái” của Phật giáo. Rõ ràng lòng tự tôn dân tộc, tự tôn tư tưởng, tôn giáo đã tạo nên điều đó. Trí tuệ Việt đủ sức lĩnh hội và chắt lọc tinh túy Nho – Phật – Lão. NHÌN LẠI QUÁ KHỨ CHÚNG TA CÓ THỂ HOÀN TOÀN TỰ TIN VÀO TRÍ TUỆ VIỆT SẼ VỮNG BƯỚC TRONG TƯƠNG LAI.

      Tài liệu tham khảo:
      - Đại Việt sử kí
      - Thơ văn Lý – Trần
      - Phật tâm ca
      - Cư trần lạc đạo phú
      - Thượng sĩ ngữ lục
      - Một số bài viết của GS Hà Văn Tấn và GS Nguyễn Huệ Chi…

      Reply
      • Tịnh Tâm

        Cám ơn bạn đã dày công tra cứu và chia xẻ kiến thức.

        Nhưng thiết nghĩ, ở trang này mình nên Trích rồi Dẫn theo ý của mình thì nó “vui” hơn, vì đúng sai vẫn là ý của chính mình, đồng ý không? Còn để tra cứu thì mọi người đã có các trang Wikipedia (mình thích nhất trang này), Google…

        Dẫu sao vẫn rất trân trọng sự chia xẻ tâm huyết của bạn.

        Reply
        • Lạc Việt

          Xin cảm ơn sự góp ý của bạn Tịnh Tâm. Đây đã là số thứ 3 về chủ đề Tôn giáo và kinh tế. Tôi cũng đã nêu lên những quan điểm và suy nghĩ của riêng mình khá rõ ràng bắt đầu từ số đầu. Trên tinh thần diễn đàn mở và phi lợi nhuận (danh và lợi) nên tôi cố gắng chia sẻ hết mức có thể. Tôi đã trích dẫn và lắp ghép theo cách hiểu của tôi một cách hệ thống dựa trên một số nguồn dữ liệu để tham khảo đồng thời đưa ra những lời bình theo ý chủ quan cá nhân. Trường hợp này tôi giống như một đứa trẻ chơi LEGO thôi. Nếu hiểu như vậy thì hãy để đứa trẻ tự do theo cách riêng của nó mà không cần phải định hướng. Tôi rất vui vì comment đã được bạn đọc và reply. Xin cảm ơn!!!

          Reply
  • ptn

    Nể phục tâm và tầm của chú,

    Xã hội thời này cần nhiều lắm những tư tưởng tôn giáo đích thực, và những tấm lòng sư phạm hết mình cho sự nghiệp trồng người thực sự. Cần nó còn hơn cả những giải pháp vĩ mô về mọi thứ cơm áo gạo tiền.

    Nhưng tâm hồn Việt đã mờ nhạt dần trong hơn 37 năm, hay có khi lâu hơn…
    Hình hài nguyên thủy 4000 năm văn hiến của đất Việt, người Việt có thực sự tồn tại?

    Kỹ sư về tâm hồn, cháu thấy cần nhiều hơn nữa. Nhưng, kiến trúc sư về tâm hồn thì lại chẳng thấy đâu.

    Chúc chú luôn bình an,
    ptn.

    Reply
  • Trần thiện

    Vì em chỉ biết riêng đạo Phật nên chỉ dám bình luận trên phàm trụ đạo Phật, nếu không bàn đến những truyền thuyết hay nghi lễ mà nhiều người cho là mê tín thì đạo Phật hướng chúng ta đến những đạo lý, đỉnh cao của trí tuệ, sự thanh thản trong tâm hồn. Nếu hiểu đạo lý trong đạo phật, em tin chắc rằng mọi người sẽ có 1 cuộc sống rất là hạnh phúc, rất là trí tuệ. Những điều này em không phân tích thêm vì mọi người đều dễ nhận ra khi đọc những lời Phật dạy.
    Nhưng nếu tôn giáo tín ngưỡng đi quá mức của những đạo lý, nó hướng chúng ta đến sự cuồng đạo, sự mê tín với những nghi lễ tốn kém và nắm được tâm lý sợ hãi của con người, thì lúc này đây, tôn giáo đang gặm dấm mọi người, nếu nói tôn giáo gặm dấm thì cũng không đúng, vì nói cho cùng tôn giáo cũng do con người sáng lập nên, mà phải nói là chính bàn tay phía sau sự thiêng liêng đó đã đem đến sự khủng hoảng.
    Một tôn giáo nếu gồm những triết lý, những liều thuốc trị bệnh tâm lý cho đám đông, giúp đám đông có một niềm tin nơi linh thiêng để hướng mọi người làm điều tốt, biết hối hận khi làm điều xấu, thì tôn giáo sẽ mang đến hạnh phúc cho mọi người, mang đến sự thanh thản cho mọi người, và giúp cho 1 quóc gia phát triển trên nền tảng vững chắc khi mà mọi người đều sống hạnh phúc, đều làm điều tốt.
    Khi hiểu tôn giáo đúng nghĩa thì đây chính là 1 liều thuốc tâm lý cho mọi người mọi tầng lớp.

    Reply
    • vothan

      Chào mọi người!
      Phật giáo là đạo vô thần, không mê tín như mọi người thường nghĩ. Khi đạo Phật được truyền bá sang các nước khác đã bị phủ lên lớp tín ngưỡng dân gian bản địa (nhất là khi truyền sang Trung Hoa). Do đó, Đạo Phật ngày nay mà quí vị nghe, thấy không phải là thứ đạo Phật mà ngài Thích-Ca-Mâu-Ni truyền giảng; Đạo Phật nguyên thủy ban đầu chỉ là dạy cho con người đạo đức “Sống không làm khổ mình, khổ người, khổ cả hai” (Trích Thích Thông Lạc). Nếu quí vị muốn tìm hiểu rõ hơn nền đạo đức nhân bản ấy không mang màu sắc mê tín của Phật Giáo Nguyên Thủy thì tham khảo thêm link sau http://www.tuvienchonnhu.net. Ở đó mọi người có thể chiêm nghiệm những chân lý của loài người, của vũ trụ qua lời dạy của Đức Phật.
      Chúc mọi người tìm ra lẽ sống của đời minh!

      Reply
  • HaiAu

    Fireflies

    I touch God in my song
        as the hill touches the far-away sea
          with its waterfall.
    The butterfly counts not months but moments,
        and has time enough.

    Let my love, like sunlight, surround you
        and yet give you illumined freedom.
    Love remains a secret even when spoken,
        for only a lover truly knows that he is loved.

    Emancipation from the bondage of the soil
        is no freedom for the tree.

    In love I pay my endless debt to thee
        for what thou art.

    By: Rabindranath Tagore

    Reply
  • Bill Nguyen

    Ngu y cua bac Alan la tinh hinh kinh te Viet nam bay gio Botay.com chi con biet trong cho vao thuong de ma thoi…co the ma bac Viet nhung 3 bai, moi nguoi comment qua troi lun a.:(

    Reply
  • hung pham

    Sống trên đời, mỗi người chúng ta đều gặp rất nhiều câu hỏi và tìm cách trả lời. Tuy nhiên không có câu hỏi nào quan trọng bằng 3 câu sau đây, vốn đã làm các triết gia và khoa học gia bối rối từ xưa đến nay. Chắc hẳn đôi khi chính bạn cũng băn khoăn về 3 câu hỏi ấy. Đó là

    1) Con người từ đâu đến đây?
    2) Con người sống trên đời nầy để làm gì?
    3) Sau khi qua đời, con người sẽ đi đâu?

    1. Con người từ đâu đến đây?

    Cho đến thời Trung Cổ, người ta vẫn tin rằng quả đất là trung tâm của vũ trụ, và con người là trung tâm của quả đất. Nhưng ngày nay chúng ta biết quả đất chỉ là một hạt bụi trong vũ trụ rộng lớn vô cùng, và con người còn nhỏ bé hơn nữa.

    Đến giờ nầy khoa học chưa tìm ra sự sống ở nơi nào khác trong vũ trụ ngoài quả đất của chúng ta. Cho nên bạn thắc mắc: Thế thì con người từ đâu mà ra? Tại sao loài người và sinh vật chỉ có trên quả đất tí teo nầy? Là người biết suy luận và có đôi chút kiến thức khoa học, bạn không thể tin vào thuyết ngẫu sinh chủ trương rằng con người tự nhiên mà có. Tuy nhiên Thánh Kinh cho bạn câu trả lời. Sách Sáng thế chương 1, câu 1 viết như sau: “Ban đầu Thượng Đế dựng nên vũ trụ,’1 và câu 26 cũng cùng chương ấy viết “Thượng Đế bảo: Chúng ta hãy tạo dựng con người theo hình ảnh chúng ta.”2

    Như thế, chúng ta biết con người do Thượng Đế tạo nên chứ không phải tự nhiên mà có. Đấng tạo nên con người và tất cả sinh vật trên quả đất cũng là Đấng dựng nên vũ trụ bao la nầy. Trong không gian, vận tốc ánh sáng là 300.000 cây số một giây. Dù với vận tốc nhanh kinh khủng như thế ánh sáng cũng phải mất 8 phút để đi từ mặt trời đến trái đất, với khoảng cách là 153 triệu cây số. Một điều kỳ diệu là khoảng cách giữa mặt trời và quả đất là một khoảng cách vừa đúng để sinh vật sống còn. Nếu quá gần mặt trời chúng ta sẽ bị cháy tiêu, nếu quá xa chúng ta sẽ chết cóng vì lạnh. Ngẫu nhiên chăng? –Không phải đâu! Chính Đấng Tạo Hóa đặt để như thế.

    Hiện tại chúng ta vẫn chưa biết giới hạn vũ trụ là bao nhiêu. Với những viễn vọng kính tối tân nhất, chúng ta chỉ mới thấy được những ngôi sao cách chúng ta khoảng 20 tỉ năm ánh sáng mà thôi! Tuy nhiên đó vẫn chưa phải là giới hạn của vũ trụ! Cho nên sự xuất hiện của con người trên địa cầu nhỏ bé duy nhất nầy giữa biển vũ trụ mênh mông gồm hàng trăm tỉ ngôi sao quả là một trong những điều mầu nhiệm vĩ đại trên đời mà các khoa học gia đến giờ nầy chưa giải thích nổi.

    Đa-vít, một vị vua nổi tiếng của Do-thái xưa kia đã thốt lên như sau khi nhìn vũ trụ bao la, “Khi tôi nhìn bầu trời là công việc của tay Ngài, mặt trăng và các ngôi sao mà Ngài đã tạo nên, thì con người là gì mà Chúa lưu ý, con cái loài người là ai mà Ngài chăm sóc?”4 Một Thượng Đế cao cả vĩ đại, Đấng đã tạo dựng thế giới và vũ trụ bao la, lại chăm sóc đến một loài người nhỏ bé như chúng ta, điều đó cho thấy tình yêu thật sự vô hạn của Ngài.

    2. Con người sống trên đời nầy để làm gì?

    Chưa ai rõ con người hiện diện trên quả đất bao lâu, nhưng kể từ khi nhân loại có lịch sử ghi lại bằng chữ viết (khoảng 5.000 năm nay) thì trong hơn 90% thời gian ấy, nghĩa là hơn 4.500 năm, con người luôn luôn chém giết nhau qua chiến tranh, giặc giã. Nghĩa là thời gian con người sống trong chiến tranh, chết chóc, nhiều hơn thời gian hòa bình. Hằng ngày chúng ta đọc báo chí thấy những cảnh giết người, khủng bố, thiên tai khắp nơi khiến cho đời sống con người đã ngắn lại càng ngắn thêm. Rồi bạn nhìn những người xung quanh bạn bon chen chạy theo vật chất, tranh dành địa vị, quyền lợi đến nỗi làm hại nhau. Bạn tự hỏi: Ý nghĩa cuộc đời là như thế à? Tại sao con người không thể đối xử tốt hay sống hoà thuận với nhau được?

    Lời Thượng Đế dạy trong Thánh Kinh: “Hãy làm điều công chính và phải lẽ.”5 Thượng Đế đặt con người trên đất để thờ kính và phục vụ Ngài, không phải để chém giết nhau hay làm hại nhau. Ngài muốn con người cải tiến quả địa cầu mà Ngài đã tạo nên. Một lần nữa Thánh Kinh dạy thêm, “Hãy thực thi công bình cho kẻ cô thế và mồ côi; bảo vệ quyền lợi của người thấp kém và khốn cùng.”6 Đó là ý nghĩa cuộc đời. Đó là lý do để chúng ta sống trên đất nầy.

    Một điều ít ai chối cãi: Cuộc đời nầy thật quá ngắn ngủi so với cõi vô tận! Mô-se, một vị lãnh đạo vĩ đại xưa kia của dân Do-thái viết, “Các năm tháng chúng tôi kết thúc trong tiếng khóc than. Đời chúng tôi dài lắm là 70 tuổi, còn nếu khỏe mạnh thì được 80, nhưng các năm tháng ấy đều đầy lao khổ.”8 Văn chương Việt Nam cũng đã cho thấy cảnh bấp bênh của đời sống qua câu ca dao,

    “Đời người ví thể phù du,

    Sớm còn tối mất công phu lỡ làng.”

    Cho nên ý nghĩa đời bạn là gì? Bạn đã tìm thấy nó chưa?

    3. Sau khi qua đời, con người sẽ đi đâu?

    Hằng ngày chúng ta quá bận rộn với cuộc sống nên ít có thì giờ để nghĩ đến cái chết và quên rằng mỗi một ngày qua đi đưa chúng ta gần đến điểm cuối của cuộc đời mình! Chỉ khi nào chứng kiến cảnh vĩnh biệt đau buồn của bạn hữu hay thân nhân thì chúng ta mới sực tỉnh và tự hỏi: Chúng ta qua đời rồi sẽ đi đâu nhỉ? Rồi bạn băn khoăn: “Chừng nào thì tôi sẽ gặp lại những người thân đã ra đi?”

    Nhiều người cho rằng, “Chết là hết.” Tại sao?

    —Vì rằng từ ngày có vũ trụ nầy, hàng bao nhiêu tỉ người đã sinh ra, sống tạm trên đất, rồi qua đời. Không một ai trở về bảo cho chúng ta biết bên kia phần mộ có gì. Tuy nhiên Thánh Kinh cho chúng ta thấy rõ những gì xảy ra sau cái chết: “Theo như đã định, mọi người phải chết một lần rồi chịu xét xử.”9 Thánh Kinh mô tả thêm, “Tất cả chúng ta đều phải trình diện trước Chúa Cứu Thế để chịu xét xử. Mỗi người sẽ nhận lãnh điều mình đáng lãnh do những việc mình đã làm trong thân xác, dù tốt hay xấu cũng vậy.”10 Một chỗ khác Thánh Kinh cho biết, “Thượng Đế sẽ phân xử mọi việc, cho đến việc làm lén lút, dù thiện hay ác cũng vậy.”11 Đó là những gì sẽ xảy ra sau khi chúng ta qua đời. Thánh Kinh viết thêm về số phận những người bị trừng phạt sau khi ra trước toà án của Thượng Đế, “Những kẻ hèn nhát, kẻ vô tín, kẻ làm ác, kẻ giết người, kẻ dâm dục, kẻ phù phép, kẻ thờ thần tượng và các kẻ nói dối thì chỗ ở của chúng là hồ lửa diêm sinh. Đó là cái chết thứ hai.”13 Như thế chết chưa phải là hết mà là phải ra trước toà án của Thượng Đế. Đồng thời chúng ta thấy có 2 cái chết: một về phần xác, và một về phần hồn nghĩa là chịu khốn khổ trong hỏa ngục. Cái chết phần xác là cái chết tạm, cái chết phần hồn là cái chết vĩnh viễn.

    Sứ đồ Giăng cũng mô tả như sau về thiên đàng, nơi những người thuộc về Chúa tức những người không bị xét xử, sẽ sống, “Rồi tôi thấy trời mới, đất mới. Tôi cũng thấy thành thánh là Giê-ru-sa-lem mới từ thiên đàng của Thượng Đế xuống…Ngài sẽ lau hết nước mắt khỏi mắt họ; sẽ không còn chết chóc, buồn thảm, khóc lóc hay đau đớn nữa vì những việc cũ đã qua rồi. Thành cũng không cần mặt trời, mặt trăng chiếu sáng vì vinh hiển của Thượng Đế là ánh sáng cho thành và Chiên Con (Chúa Giê-xu) là đèn của thành.… Các cổng thành không bao giờ đóng vì không có đêm ở đó nữa.”14 Đó là hình ảnh của thiên đàng, nơi Chúa và các con cái của Ngài sẽ cư ngụ. Như thế cuộc sống trên trần thế nầy là cuộc sống tạm, cuộc sống đời sau mới là cuộc sống vĩnh viễn.

    Bạn có nhận thấy rằng hầu hết các tôn giáo trên thế giới đều tìm hiểu về thế giới bên kia không? Tại sao?—Vì đa số con người bình thường đều tin rằng sau cái chết còn một cái gì khác nữa. Tuy nhiên không tôn giáo nào trình bày rõ ràng về các sự việc bên kia phần mộ bằng Thánh Kinh, lời của Thượng Đế, như bạn đã thấy trên đây.

    * * *

    Bạn thân mến, nếu trên đây là 3 câu hỏi lớn lao trong đời bạn thì giờ đây bạn đã biết câu trả lời, qua Thánh Kinh. Tất cả chúng ta đều có nhiều lựa chọn khi còn sống. Tuy nhiên có hai điều chúng ta không thể chọn: ngày sinh vàngày chết của chúng ta.

    Nếu chúng ta đã chuẩn bị rất nhiều cho cuộc sống tạm bợ trên đất nầy, chẳng lẽ chúng ta lại không chuẩn bị kỹ hơn cho ngày chúng ta lìa đời sao? Tôi tin rằng bạn rất muốn chuẩn bị.

    Chuẩn bị cách nào? Một lần nữa Thánh Kinh vạch con đường cho chúng ta thấy, “Hiện nay không có sự xét xử nào cho những ai ở trong Cứu Chúa Giê-xu.”15 Nghĩa là những ai ở trong Cứu Chúa Giê-xu đều không phải chịu xét xử sau khi qua đời. Ai được ở trong Cứu Chúa Giê-xu? –Đó là những người đã đặt niềm tin nơi Ngài. Thánh Kinh viết, “Vì Thượng Đế quá yêu nhân loại đến nỗi đã hi sinh Con Một của Ngài (tức Chúa Giê-xu), để hễ ai đặt niềm tin vào Con ấy sẽ không bị chết mất nhưng được sự sống đời đời.”16 Chúa Giê-xu hi sinh cách nào?—Ngài hi sinh bằng cách chịu chết trên thập tự giá thay cho bạn và tôi.

    Cho nên nếu bạn cũng như tôi là những người đang vấn vương bởi 3 câu hỏi quan trọng vừa nói, và mong muốn tìm ra ý nghĩa cho cuộc đời mình trên đất nầy để có được một sự an toàn trong đời tương lai thì bạn hãy đặt niềm tin mình nơi Chúa Cứu Thế Giê-xu hôm nay. Đừng chậm trễ. Ngài đang trông chờ bạn. Bạn có thể trực tiếp đến với Ngài bằng lời cầu nguyện chân thành và vắn tắt:

    “Lạy Chúa Cứu Thế Giê-xu, con muốn được sự sống đời đời trong Ngài. Con xin đặt niềm tin nơi sự hi sinh cao cả củaNgài trên thập tự giá. Con muốn sống một cuộc đời có ý nghĩa. Xin tiếp nhận con làm con của Ngài để con được vào nước thiên đàng của Ngài. Nhân danh Cứu Chúa Giê-xu, A-men.”

    Reply
    • Tịnh Tâm

      Ngợi khen bạn đã được Chúa Thánh thần khai sáng để gửi comment này ở đây, với tâm niệm chứng minh là có một con đường “giúp” cho mọi người biết Công cuộc của Chúa Trời mà sống ở đời này có ý nghĩa hơn, để sau này được vào nước Trời mà sống một cuộc sống vĩnh hằng vui vẻ vô cùng.

      Tuy nhiên, với những minh chứng của bạn thì vẫn bị giới hạn bởi những cách lý giải của trí khôn mà tự con người nghĩ ra, chưa kể là còn tự ý “tạo ra” nhân danh Chúa nữa đó. Ví dụ bạn trả lời 3 câu hỏi cũng chỉ bằng những sách vở hay chuyện kể lại của con người nên tính thuyết phục sẽ có phần bị giới hạn.

      Bạn trả lời câu hoi 1) Con người từ đâu đến đây? Là do Chúa Trời tạo ra, vây Chúa trời làm sao mà có ? Như vậy do cách suy nghĩ của con người là “Có” hay “Không” nên mới đưa ra câu hỏi khởi nguyên của vũ trụ? Nếu dùng Ý Niệm đồng nhất thì sẽ không còn ngôn từ “có và không” nữa, nên không cần hay nói cách khác là không có ý niệm khác nhau nên không phải tìm cách trả lời cầu hỏi này.

      Bạn trả lời câu hỏi 2) Con người sống trên đời nầy để làm gì? Bạn nói cần sống theo ý Chúa thì sẽ không còn chiến tranh, đau khổ … Nhưng chiến tranh nếu để sinh tồn thì vẫn được xem là cần thiết, chính nghĩa, ngay cả Đạo Ky Tô vẫn xem thời thánh chiến vào thế kỹ 15 là chính nghĩa và còn được xem là làm theo ý Chúa với mầu nhiệm của Kinh và chuỗi Mân côi. Về phần này nếu gặp người chỉ chú trọng với thế giới thực tại, thì không thể “dẫn đạo” được, họ thấy thoải mái và phù hợp với tâm sinh lý của họ khi hưởng thụ mọi cái từ 5 giác quan thì Đạo sẽ không còn ý nghĩa, đối với họ Thiên đường chính là ở trần gian này và cả Địa ngục cũng ở đây. Những mô tả của Thánh kính hay của các Thánh về Thiên đường vẫn chi “chiếu lại” nhưng gì mà con người cảm nhận bằng thân xác ở trần gian này mà thôi. Nên nếu xem bằng nhiều góc độ thì sẽ thấy có nhiều mâu thuẩn trong những mô tả đó. Chính mỗi người nếu thật sự quan tâm đến câu hỏi 2 này thì họ sẽ tìm ra mục đích sống của mình thôi.

      Bạn trả lời câu hỏi 3) Sau khi qua đời, con người sẽ đi đâu? Khi chết con người sẽ chờ ngày phán xét cuối cùng của Chúa để tách thành hai nhóm, một lên Trời ở với Chúa, một xuống Hỏa Ngục ở với Sa tăng. Đến đây nếu lý giải theo kinh sách thì lại vẫn không thể giải đáp thỏa đáng cho lý trí con người được, chẳn hạn Sa tăng do đâu mà có, cũng rơi vào câu hỏi có không như Chúa vậy… Hơn thế nữa nhiều kẻ đâu muốn được vào cái Thiên đường mà chẳn có gì “vui” như bạn mô tả thì họ sẽ không đi theo con đường bạn chỉ đâu, thậm chí còn làm trái lại để được xuống Hỏa ngục là đằng khác vì họ thấy Địa ngục mới có lạc thú cái mà họ cần.

      Thật khó mà dùng lời lẻ của con người (kể cả Thánh kinh và lời của các Thánh) để thực thi nghĩa vụ rao giản Đức tin, mà phải bằng đời sống hằn ngày để nêu gương sáng và tự mỗi người khi quan tâm đến Đạo sẽ không ngừng tìm kiếm, tìm hiểu, chiêm nghiệm nó và chọn ra CÁI PHÙ HỢP nhất với mình để sống tốt nhất, như vậy chính chúng ta đã vừa Truyền Đạo mà cũng vừa xây dựng Thiên Đường ngay ở trần thế này.

      Reply
  • HaiAu

    Dear Dr. Alan Phan, I wish that you would create a show like Shark Tank or Dragons’s Den for Vietnam. I really enjoy watching those series even Shark and Dragon are very scary to me – a cute Blue Pig ;-) You see, I am very friendly?
    I also love to watch the Lion King, Finding Nemo, Mermaid, and watching… Your talk, interview on TV. But most of all, I wish that you would leave the battle of business, market,etc. to start a brand new idea and field. Ah… It’s publishing and eBook!!! Forget about Stocks to enjoy Fiction! Catching Something in the Sea… Lost Greenfields, or Seagull on the Beach (not Kafka) Ohhh… I wish… It’s great and more interesting, isn’t it?
    Amen.

    Reply
  • HaiAu

    Why Shark Tank show? It’s because there are so many composers and musicians are waiting for a great conductor in business. This country needs great leadership badly and we CRY!!!

    Freedom of quality publishing and ebook will be the key:
    It creates a global Vietnamese community to learn and share all inventions, ideas, translation of all kinds of languages to our language.
    It tracks, systemizes and digitally stores all information and records for next generations.
    It helps gradually connecting all the talents of all fields: business, education, technology, etc.
    I promotes IT business and of course creates more jobs and customers.

    Bottom line, if your books couldn’t be sold at Ba Dinh, you need to GO THERE, not just staying in Saigon and… Complain. :-)
    Besides, please don’t forget that you haven’t written any short story for a long time. BCA and Friends of M. & A. miss it.

    Best wishes.

    Reply
  • ròm

    tốt lành thay,là những bần chủ ( bần tăng + thí chủ ) mon men vào đọc rồi tủm tỉm bò ra , chẳng để lại gì ngoại trừ cookie ./.
    :)

    Reply
    • HaiAu

      If you don’t know how to beg, you never know how to Give. Cookie is fine, helps someone have a job of cookie collection.

      Reply
  • dailungtonvai

    Trư­ớc biển

    Sừng sững núi
    Nhấp nhô sóng cồn
    ánh lửa trùng khơi loé sáng
    Trái tim đêm sâu lắng, hôn mê…
    Giữa mênh mang của sóng gió
    Những câu hỏi ẩn hiện…
    Giữa cái dịu êm mà lơ đãng
    Nỗi cô đơn cũng xác xơ…

    Đêm trầm mình xuống biển
    Mà sóng thì ồn ào, vật vã
    Núi bình thản, hiên ngang
    Để những vạt sóng gặm nhăn nheo, sắc lạnh.
    Giữa cái trớ trêu của bình yên và bão tố
    Lại bắt đầu từ một tình yêu
    Hiền hoà, êm dịu
    Từ buổi đẩu gặp gỡ, hân hoan
    Những đợi chờ làm chai sạn
    Cháy những ­ớc mơ
    Khi biết cuộc đời là biển cả
    Và tình yêu chỉ là những dòng suối nhỏ đáng thư­ơng
    Âm thầm chảy kiệt…

    Ta đã gầy mòn thân xác !
    Cớ sao lòng đầy bộn suy tư­ ?
    Biển đã thở dài giận dữ !
    Cớ sao vần vũ mây về ?

    Đêm cựa mình thật là nhẹ
    Đẩy cuộc đời trôi lặng lẽ
    Sang trang.
    Ta đã đến bến chiều vô vọng
    Thì Biển ơi xin hãy nói lời từ biệt
    Bỏ sau l­ưng những tháng ngày sôi nổi, ngông cuồng
    Xin đ­ược trở về với ngây thơ, trong trắng
    Tr­ước biển !
    Một ánh lửa – Loé ngoài khơi./.

    Reply
  • Ngoc My

    Mong bác Alan sớm viết tiếp chủ đề này. Nhớ lối viết văn đầy tính hiền triết nhưng dễ đi vào lòng người của bác. God bless Sir.

    Reply
  • Uy Dinh

    Theo em thì Văn hóa Việt Nam ảnh hưởng rất nhiều Văn hóa Trung Quốc. Do đó em xin đưa 1 bài phân tích RẤT HAY của 1 vị tướng Trung Quốc để các Anh/Chị tham khảo (có thể bản dịch không chính xác)

    Tướng Lưu Á Châu bàn về văn hoá Trung Quốc

    http://tuanvietnam.net/2010-08-30-tuong-luu-a-chau-ban-ve-van-hoa-trung-quoc

    TRONG ĐÓ CÓ ĐOẠN :

    ……….
    Tôn giáo

    Trung Quốc có ba tôn giáo chính là Phật Giáo, Đạo Giáo và Nho Giáo (tôi gọi Nho Học là một loại tôn giáo). Ba tôn giáo này có trách nhiệm không thể thoái thác đối với với sự hình thành trạng thái tâm lý và đạo đức ngày nay của người Trung Quốc. Lịch sử cho thấy ba tôn giáo trên căn bản không thể chấn hưng được dân tộc Trung Hoa.

    Xin để tôi so sánh đối chiếu Ki Tô Giáo với tôn giáo của Trung Quốc.

    Văn hoá Trung Quốc dạy chúng ta “Nhân chi sơ, tính bản thiện” (con người lúc mới ra đời có bản tính lương thiện – ND). Tôn giáo của phương Tây thì ngược lại, cho rằng con người sinh ra đã là xấu (nguyên văn chữ Hán: ác – ND), bản tính con người cũng xấu. Bởi vậy, tôn giáo phải hạn chế anh, bắt anh suy ngẫm về chính mình. Văn hoá phương Tây cho rằng loài người có tội tổ tông. Lòng người đen tối.

    Trong số các đồng chí có người đã trải qua “Cách mạng Văn hoá”, xin hỏi cái đen tối nhất ở đâu? Cái đen tối nhất thì ở trong lòng người. Tâm hồn mỗi người đều có mặt vô cùng bẩn thỉu. Văn hoá phương Tây mổ xẻ, hé lộ nó ra, trưng nó ra. Phê phán nó, kiềm chế nó. Văn hoá phương Đông thì ôm ấp nó, nuôi dưỡng nó. Nhà thờ ở phương Tây có phòng xưng tội (nguyên văn: sám hối – ND). Người ta vào nhà thờ trình bày với thánh thần các thứ trong tâm hồn mình.

    Nói cho thần thánh nghe mọi cái xấu xa bẩn thỉu của mình thì người ta thấy nhẹ nhõm. Tâm hồn người ta được rửa sạch. Hồi sang Mỹ tôi có vào nhà thờ ngồi hẳn một ngày trời. Tôi phát hiện thấy một cảnh rất thú vị: Mọi người ai nấy khi vào nhà thờ thì mặt mày ủ ê, khi đi ra thì sắc mặt thư thái nhẹ nhõm. Về sau tôi mới dần dà hiểu được bí quyết của chuyện ấy. Lâu ngày, người ta trở thành thành con người lành mạnh, con người có tâm trạng và tâm hồn đặc biệt kiện toàn. Con người ai cũng có ham muốn. Nhưng người ta phải kiềm chế ham muốn của mình, ai nấy ắt phải tự mình (chứ không phải người khác) kiềm chế bản thân.

    Người Trung Quốc không biết kiềm chế mình, không biết tra khảo bản thân, thế là người ta đi kiềm chế kẻ khác, tra khảo kẻ khác. Quất roi và tra khảo bản thân là chuyện đau khổ. Chỉ khi nào trong lòng mình mãi mãi có tín ngưỡng, có tín ngưỡng vĩnh hằng với thần thánh, thì mới có thể làm được như thế.

    Rất nhiều đồng chí đã đi thăm nhà thờ ở phương Tây. Ở đấy thánh thần xuất hiện với hình ảnh đầm đìa máu, chịu khổ chịu nạn. Jesus bị đóng đinh trên giá chữ thập. Đức Mẹ không đổ máu nhưng rơi lệ. Đấy thực sự là hoá thân của con người, là hoá thân của sự khổ nạn và tư tưởng của con người. Thần thánh trong tôn giáo phương Tây nhìn vào tựa như thần thánh, thực ra là con người. Cái chết của Jesus đã hoàn tất việc ngài lột xác (nguyên văn: thoát biến – ND) từ thánh thần thành con người. Chỉ con người mới chết.

    Nhưng thánh thần trong các đền miếu của Trung Quốc thì mới là thánh thần. Bạn hãy xem hình ảnh các vị thần thánh ấy: Bụng chảy xệ, nét mặt chẳng lo nghĩ gì sất, nhăn nhở cười cợt, thụ hưởng của thờ cúng. Vị nào vị ấy ăn đến béo rụt đầu rụt cổ.

    ………..

    Reply
    • papillon

      Giáo nghĩa căn bản của Đức Phật là giáo dục, làm cho tất cả chúng sanh đều có trí huệ, có Trạch Pháp Nhãn, biết nhân biết quả, đoạn ác tu thiện; chứ chẳng phải một mực chú trọng về việc xây chùa dựng miếu, tổ chức Pháp hội!

      Reply
  • Hung Pham

    BẠN MUON CÓ HẠNH-PHÚC KHÔNG ?

    Có 1 thanh niên nọ nuôi nhiều cao vọng.Chàng tìm dến 1 nhà triệu phú dể tìm hiểu các bí quyết làm giàu. Ông nhà giàu thật kiên nhẫn và chịu khó trả lời tất cả nhũng câu hỏi thành khẩn của chàng.Truớc khi tù giã , nguời thanh niên nói: “ Duợc giàu sang thế nầy ,chắc ông không còn muốn gì hơn nũa ? “ Nhà triệu -phú lắc dầu dáp : .

    Bạn nghĩ gì về mẫu dối thoại ngắn ngũi trên ? Qua bao nhiêu năm sống ở dời , dã chúng kiến nhiều hoàn cảnh ,chắc bạn dồng ý rằng , tiền của không dem lại hạnh-phúc cho con nguời .

    Dĩ nhiên tất cả chúng ta diều cần có tiền dể sống trong xã hội nầy . Chúng ta phải ăn uống dể tồn tại, cần có áo quần dể che thân và nhà của cho mình trú ngụ . Nhung nhũng diều dó lại không dem lại cho chúng ta hạnh -phúc . Nhiều nguời nghèo khó cảm thấy sung-suớng hơn ông láng giềng giàu có .Tiền bạc không phải là chìa khóa của hạnh-phúc ,phải không bạn ? Nhu vậy …..

    HẠNH-PHÚC LÀ GÌ ?

    Hạnh-phúc là 1 trạng thái vui thỏa trong tâm hồn .Nguời có hạnh phúc là nguời cảm thấy có sụ bình-an và vui-suớng . Nhung trạng thái bình-an và vui-suớng ấy không thể mua tiền bạc , và cũng không thể do-luờng theo múc dộ thành công nào . Nhũng diều dó không do vật chất tạo nên , Bạn di tìm hạnh -phúc nơi vật chất , bạn sẽ thất vọng.

    Nếu bạn tìm duợc 1 bí quyết dể có tâm trí bình-an và tâm hồn vui-suớng thì bạn dã nắm duợc chìa khóa của hạnh-phúc .Bạn muốn cùng toi di tìm bí quyết ấy không ? Bạn hãy suy-nghĩ kỹ . Bạn muốn không? Muốn 1 cách thật lòng không ?

    Nếu sụ bình-an & vui-suớng là nhũng yếu tố của hạnh-phúc ,rất cần thiết cho cuộc sống nầy , thì chúng ta phải tìm cho ra diều nào ngăn trở không cho mình duợc nhũng diều dó .

    Diều mà tôi sắp nói dến chắc bạn không thích nghe lắm , diều dó có thể khó hiểu dối với bạn. Diều ngăn trở hạnh-phúc dến với con nguời là : TÔI-LỖI .

    Dù bạn có thích nghe chũ dó hây không . TỘI-LỖI vẫn là 1 sụ kiện hiện-hũu .Nó ngăn chặn chúng ta dến hạnh-phúc nhu 1 tảng dá lớn trên núi rớt xuống nằm chắn ngang dèo. Nếu bạn không muốn dối diện với chũ ấy , bạn sẽ không bao giờ có hạnh-phúc .Chúng ta không bao giờ thoát khỏi tội-lỗi nếu không chịu duơng dầu với nó dể tìm 1 giải pháp .Dù bạn nhắm chặc mắt mình & nói rằng : “ Không có vấn dề tội-lỗi ,tội-lỗi vẫn hiện hũu rõ ràng ở trong bạn & xung quanh bạn.

    TỘI-LỖI làm mềm ý chí của bạn.

    TỘI-LỖI làm luơng tâm của bạn mờ tối.

    TỘI-LỖI làm cho bạn phải sống cuộc dời có hai mặt ,và nhu vậy bạn trở thành nô-lệ cho chính mình.

    TỘI-LỖI làm hu-hỏng nhân cách của bạn .

    TỘI-LỖI cuối cùng sẽ dua bạn dến sụ chết.

    Chúng ta thuờng coi tội-lỗi là nhũng hành vi nhu ruợu chè ,say-sua ,bài-bạc ,trộm-cắp ,nguyền-rủa ,sát-nhân. . .không cần phải bàn thêm , nhũng diều vùa kể là tội-lỗi .Tuy nhiên , tội-lỗi mà tôi dang nói dến có một liên quan trục-tiếp sâu-xa hơn với bạn.

    TỘI-LỖI LÀ GÌ ?

    Tội-lỗi là sụ thất bại trong dó bạn không dạt dến tiêu chuẩn sống mà Dúc-Chúa-Trời ( nguời VN ta gọi nôm na là Ông Trời ) ,Dấng Tạo Hóa , dã thiết lập cho con nguời . “ Vì mọi nguời diều dã phạm tội, thiếu mất sụ vinh-hiển của Dúc-Chúa-Trời “

    …..

    Reply
  • Hana_bee

    Thường kẻ biết thì kiệm lời. Nếu có ai quen biết Thượng Đế chắc k rãnh mà tranh cãi …
    Người Việt biết nhiều, chỉ thiếu niềm [đức] tin …

    Reply
  • Thuy Nga

    Thưa Bác Alan Phan,

    Câu tiếng Anh ở phần cuối bài, theo tôi thì phải được dịch là:

    “Chúa là một ẩn dụ cho cái vượt lên trên những cấp bậc của suy nghĩ thông tuệ”.

    Reply

Bình luận Phạm Tiến Thành

© 2014 GÓC NHÌN ALAN

Scroll to top