7 rào cản giết chết các phi vụ M&A tại Việt Nam Reviewed by Momizat on . Trong tình trạng suy thoái kinh tế, nhiều doanh nghiệp VN, lớn và nhỏ, nhìn vào thị trường M&A (mua bán và sáp nhập) như cái phao cuối cùng trước những cơn Trong tình trạng suy thoái kinh tế, nhiều doanh nghiệp VN, lớn và nhỏ, nhìn vào thị trường M&A (mua bán và sáp nhập) như cái phao cuối cùng trước những cơn Rating:
>>Trang chủ » Khu Vườn Của Alan » 7 rào cản giết chết các phi vụ M&A tại Việt Nam

7 rào cản giết chết các phi vụ M&A tại Việt Nam

Trong tình trạng suy thoái kinh tế, nhiều doanh nghiệp VN, lớn và nhỏ, nhìn vào thị trường M&A (mua bán và sáp nhập) như cái phao cuối cùng trước những cơn sóng lớn của nền kinh tế. Nhưng có 7 rào cản lớn có thể giết chết các phi vụ M&A mà các DN cần phải tìm cách vượt qua.

7 rào cản giết chết các phi vụ M&A tại Việt NamTrong tình trạng suy thoái kinh tế, nhiều doanh nghiệp VN, lớn và nhỏ, nhìn vào thị trường M&A (sát nhập và mua lại) như cái phao cuối cùng trước nhũng cơn sóng lớn của nền kinh tế. Niềm hy vọng thường nằm vào các đối tác và nhà đầu tư nước ngoài, nhằm đem lại cho họ không những nguồn tài chính cần thiết mà còn thêm vào đó. những công nghệ hiện đại, thương hiệu tốt và thị trường thế giới. Nếu không câu được con cá nước ngoài nào, các doanh nghiệp  gặp khó khăn đành phải quay lại với những đối thủ hoặc đối tác ở VN. Họ chắc phải bán công ty rẻ hơn (người Việt với nhau thì biết “tẩy” của nhau quá nhiều), dưới những điều kiện khắt khe hơn và thường mất đi quyền quản lý đứa con tinh thần của họ.

Nhưng dù với đối tác nào, việc M&A tại VN vẫn gặp rất nhiều rào cản, khiến tỷ lệ thành đạt của giao dịch, cũng như sự sát nhập của 2 công ty khác văn hóa sau khi hoàn tất giao dịch, sẽ gặp nhiều thách thức lớn lao cho cả 2 bên mua và bán. Tôi chỉ liệt kê 7 rào cản chính yếu mà 2 bên phải đương đầu. Nhiều yếu tố khác dù nhỏ hơn cũng có thể “giết” một giao dịch hoặc làm vụ việc M&A trở thành ác mộng cho 2 bên sau khi hoàn tất. Sự chuẩn bị tinh thần và tài lực để giải quyết và vượt qua 7 rào cản này có thể là vấn đề sinh tử của M&A tại VN.

1. Tư duy và văn hóa.

Doanh nghiệp Á Đông thường dựa quyết định quan trọng vào trực giác, sĩ diện và cảm quan cá nhân nhiều hơn là các đồng nghiệp bên Âu Mỹ, Ở các xứ này, chiến lược định vị của công ty, sản phẩm độc đáo, chỉ số tài chính ROI (return on invesment), giá thị trường, thương hiệu hay công nghệ đặc thù là những thành tố chính. Nhưng ở VN, ngoài các yếu tố trên, doanh nhân VN còn lưu ý đến quan hệ giữa 2 bên, vấn đề sĩ diện “bị” mua, hay đôi khi, lợi ích cá nhân còn quan trọng hơn mục tiêu của công ty.

Văn hóa Á Đông đặt nặng liên hệ gia đình nên phần lớn những doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn là một thực thể do “gia đình trị”. Mỗi người VN là một ông trời con (dưới mắt họ) nên sự sát nhập bình đẳng và lâu dài giữa 2 doanh nghiệp VN là điều khó xảy ra. Thường thường thì “cá lớn nuốt cá bé” (mua lại chứ không sát nhập), nhưng những con cá bé lại có nhiều thủ thuật có thể làm cho cá lớn bị mắc nghẹn hay đau dạ dầy liên tục.

Với các đối tác nước ngoài thì doanh nghiệp VN rất sẵn lòng sát nhập toàn phần hay bán phần (một hình thức của đầu tư FDI) vì họ nghĩ là người nước ngoài chưa quen biết với môi trường kinh doanh nội địa, nên thường trả giá cao hơn và dễ bị lợi dụng trong việc điều hành hằng ngày.

2. Minh bạch và trung thực

Rào cản thứ hai là những số liệu về tài chính và hoạt động mà các doanh nghiệp VN công bố. Rất nhiều báo cáo được ngụy tạo và che đậy, khiến bức tranh toàn cảnh khó mà hình dung. Quan trọng hơn là những khoản nợ, những tiêu sản bị che dấu, những tài sản đựơc thổi phồng, việc thiếu thuế chánh phủ, hay việc giấy phép không rõ ràng. Chưa nói đến việc bán xong một doanh nghiệp rồi, người chủ cũ cho bà con thiết lập một công ty tương tự khác để cạnh tranh.

Doanh nhân VN cũng bị tiếng xấu là hay “nổ” về khả năng và tiềm lực. Với pháp luật Âu Mỹ, khi công bố chỉ 90% sự thực cũng bị kết tội là “nói dối” (full disclosure). Không có minh bạch trung thực, thì việc liên doanh khó tồn tại lâu dài. Khi nhà đầu tư đã mất niềm tin, thì sớm muộn gì, họ cũng phải bỏ chạy.

3. Khía cạnh pháp lý

Một đồng nghiệp người Áo của tôi bay qua VN để khảo sát (due diligence) về một công ty VN ông muốn mua. Sau khi nghe luật sư giảng về 7 đạo luật có thể ảnh hưởng đến việc hoàn tất giao dịch, ông ta xin cáo lỗi để về khách sạn ngủ tiếp. Ông nói qua luật ở đây sao quá rắc rối và nhiều mâu thuẫn, ông ta không bao giờ hiểu nổi.

Nói tổng quát, việc giao dịch mua lại một công ty nhỏ của ông (chỉ 8 triệu USD) phải chịu sự chi phối của 7 luật khác nhau: luật doanh nghiệp, luật đầu tư, luật cạnh tranh, luật chứng khoán, luật môi trường, luật mua bán tài sản, luật nhà đất; chưa kể đến những thông tư nghị định có thể ban hành bất cứ lúc nào. Để đi lọt 7 cửa này, vị luật sư tiên đoán là phải mất hơn 2 năm, nếu không trả phí bôi trơn. Lần chót, tôi nghe ông vừa mua xong một doanh nghiệp khác cùng tầm cỡ ở Thái Lan (giao dịch chỉ mất 4 tháng).

Ngay cả khi 2 bên đều là doanh nghiệp trong nước, các thủ tục pháp lý cũng không dễ dàng gì. Mọi chậm trễ về thời gian đều tốn kém và có thể làm người mua hay bán mất động lực và đổi ý.

4. Định giá doanh nghiệp

Doanh nhân VN thường định giá mua bán trên số tiền họ đã đầu tư (cost). Trong khi đó, người Âu Mỹ lại dựa vào giá thị trường (market) hay dòng tiền (cash flow). Đây thường là một mâu thuẫn khó giải quyết nếu các con số này cách biệt nhau quá xa.

Một vài doanh nghiệp lớn nhiều hiểu biết có thể đồng ý sử dụng một nhà định giá độc lập (independent appraiser), nhưng phí tổn và nghi ngại thường làm doanh nhân VN (bán hay mua) không đồng ý.

Một yếu tố nữa là việc định giá các tài sản vô hình (công nghệ, thương hiệu, kinh nghiệm know-how…) gây rất nhiều tranh cãi vì doanh nhân VN vẫn chưa hình dung rõ ràng về giá trị hay những thực thi về bản quyền trí tuệ.

5. Vốn tài trợ

Hiện nay, các giao dịch M&A thường dựa vào vốn tài trợ của ngân hàng, các quỹ đầu tư hay việc bán cổ phiếu, trái phiếu ra sàn chứng khoán hay các khoản tiền riêng của công ty. Những hình thức tài trợ theo dạng đòn bẫy (leveraged buy-out) vẫn chưa đuợc phổ thông và khiến nhiều doanh nhân VN (bên bán) nghi ngại.

Trong tình huống mà lãi suất lên đến 20% tại ngân hàng, các quỹ đầu tư tại VN đã cạn kiệt tiền dư thừa và sàn chứng khoán suy sụp không có thanh khoản, thì việc tài trợ cho dịch vụ M&A sẽ rất khó khăn. Tôi thường cổ súy giãi pháp “Niêm yết tại sàn Mỹ”, nhưng doanh nhân VN không mặn mà lắm vì thiếu sự hiểu biết.

6. Đội ngũ tư vấn

Một giao dịch M&A thường cần rất nhiều nhà tư vấn độc lập vì ít công ty nào có đủ nhân lực với khả năng và kinh nghiệm để hoàn tất. Thông thường, chúng ta phải nhờ đến tư vấn về pháp lý, về ngân hàng đầu tư (investment banker), về kiểm toán, về định giá, về thông tin đại chúng (PR)…Quan trọng hơn nữa, là một công ty escrow (họ đứng giữa để nhận tiền người mua và bảo đảm là giấy tờ sang nhượng công ty hay tài sản phù hợp với luật lệ và hợp đồng). Tổng số các chi phí này khá cao, có thể lên đến 15% giá giao dịch cho dịch vụ nhỏ (dưới 10 triệu USD) và 5% cho giao dịch lớn (trên 200 triệu USD). Doanh nhân VN thường không chịu trả các phí này.

Tại Âu Mỹ, các M&A nhỏ dưới 10 triệu USD thường do những nhà môi giới thương mại (business broker) làm trung gian. Các nhà môi giới này phải học và thi đậu mới được cấp chứng chỉ hành nghề. Tại VN, có rất nhiều “cò” tương tự, nhưng họ không có chức năng hay kinh nghiệm và cũng không được đào tạo.

7. Hậu giao dịch

Vấn đề lớn nhất sau khi sát nhập hay mua lại là làm sao để 2 công ty với 2 văn hóa khác nhau cùng chuyển hành trên cùng một kế hoạch. Sẽ có rất nhiều đụng chạm giữa các vị quản lý và nhân viên 2 bên, giữa quyền lợi riêng từ từng cá nhân, giữa những thị phần và thương hiệu đối chọi. Nếu không khéo giải quyết, công ty sẽ mất rất nhiều thì giờ cũng như nhân lực, đồng nghĩa với việc mất mát doanh thu và lợi nhuận.

Kết

Chiến thuật M&A được rất nhiều doanh nhân VN lên kế hoạch cho các năm tới. Tuy nhiên, vì những rào cản này, nhiều doanh nghiệp sẽ thất vọng. Theo T. Phạm Trí Hùng của Indochine Law, chỉ có khoảng 35% các giao dịch M&A tại VN là được hoàn tất tốt đẹp. Tôi nghĩ con số này không tượng trưng cho hình ảnh toàn cảnh, vì T.S Hùng chỉ tính đến những thương vụ lớn hơn 10 triệu USD. Nếu gom cả những doanh nghiệp vừa và nhỏ, tôi nghĩ con số đúng hơn là dưới 10%. Thực sự, nếu không chuẩn bị đầy đủ và hiểu rõ những chướng ngại vật, các doanh nhân VN sẽ bỏ rất nhiều thì giờ và tiền bạc vào một chiến thuật không hiệu quả.

Một khảo cứu khác của công ty tư vấn McKinsey cho thấy trong những giao dịch M&A thành công, chỉ có 26% là đem lại lợi ích (tính bằng doanh thu và thị phần) cho bên mua. Còn lại, rất nhiều việc mua lại đã làm lãng phí tiền bạc và cơ hội của các công ty chỉ muốn tăng trưởng, bất chấp giá phải trả.

Để kết luận, M&A là một vũ khí bén nhọn để phát triển công ty cho người mua, hay dể thoái vốn với bên bán. Vì bén nhọn, nên nếu không cẩn thận, cả 2 bên sẽ  bị đứt tay dễ dàng.

T/S Alan Phan là Chủ Tịch Quỹ Đầu Tư Viasa tại Hong Kong và Shanghai. Du học Mỹ từ năm 1963, ông đã làm việc tại nhiều công ty đa quốc gia ở Wall Street và phát triển công ty Hartcourt của mình thành một tập đoàn niêm yết trên sàn Mỹ với thị giá hơn 700 triệu dollars. Ông sống và làm việc tại Trung Quốc từ 1999. T/S Phan tốt nghiệp BS tại Penn State (Mỹ), MBA tại American Intercontinental (Mỹ), Ph.D tại Sussex (Anh) và DBA tại Southern Cross (Úc). Email của ông là aphan@asiamail.com và Web site cá nhân là www.gocnhinalan.com.

T/S Alan Phan, Chủ Tịch Quỹ Đầu Tư Viasa

Bình luận (9)

  • Nguyễn Văn Cường

    Ràng cản về văn hóa

    Reply
  • Phương Nam

    Cảm ơn GS về bài viết rất bổ ích này.
    Em đang tìm hiểu về M&A ở khía cạnh Luật chi phối các hoạt động này.
    Theo em nhìn nhận thì luật pháp là một yếu tố mà các công ty nước ngoài ngại để đầu tư vào VN nói chung và việc tiến hành M&A nói riêng.

    Reply
  • padme

    việt nam sẽ sáng mãi…..
    với một chuyện nhỏ….” giang sơn không đổi…chỉ đổi chủ nhân…”

    Reply
  • Larry

    LBO is hard to deal in VN, simply because cash flow, history, growth prospect and business environment are not visible and predictable. Looking from a theoretical perspective, not sure about in practice. Would welcome any feedback.

    Reply
  • Lee

    Trong ngành tài chính và ngân hàng thì M&A phải được sự phê duyệt của thống đốc ngân hàng nhà nước. Như công ty tôi làm muốn mua lại một công ty tài chính của ngoại quốc (về mặt luật pháp thì hoàn toàn hợp lệ), nhưng nhà nước lại không chịu vì sợ mất ngoại tệ ra nước ngoài (?) dù trên văn bản họ chỉ trả lời là chưa đúng thời điểm.

    Reply
  • Học Trò

    Bài của chú rất bổ ích và rất hay, tiếc rằng cháu chỉ hiểu khoảng 10% những gì bài viết đề cập. Cháu cần thêm khoảng 1-1,5 năm nữa để hiểu hết.

    Gần đây cháu đi tham quan một số triển lãm thương mại tại TPHCM, thấy sự xuất hiện khá nhiều doanh nghiệp Hàn Quốc, Nhật Bản, phải nói là nhiều một cách bất thường vì khoảng 5 năm trước thì sự xuất hiện của những doanh nghiệp Hàn, Nhật tại các triển lãm là rất ít.

    Gần đây thông tin về sự đổ bộ của doanh nghiệp Nhật vào VN khá nhiều, những con phố tại trung tâm Sài Gòn, các cửa hiệu tại trung tâm thương mại, bắt đầu xuất hiện những thương hiệu kinh doanh của Nhật Bản, truyền thông cũng đề cập khá nhiều về những thương vụ M&A của doanh nghiệp Nhật tại VN. Tại hội nghị giao lưu doanh nghiệp Nhật – Việt, một vị đại diện các doanh nghiệp Nhật Bản cho hay là theo các số liệu điều tra, doanh nghiệp Nhật đầu tư vào VN có tỉ lệ thành công là 40%, ông ta cho rằng đó là tỉ lệ cao. Chúng ta có thể hiểu cứ khoảng 100 thương vụ đầu tư tại VN sẽ có khoảng 40 thương vụ đạt kết quả tốt, điều đó đã kích thích làn sóng đổ bộ của doanh nghiệp Nhật vào VN gần đây.

    Tuy nhiên khi quan sát nhiều thương vụ M&A của những công ty Âu, Mỹ tại VN, cháu có cảm giác rằng tỉ lệ thành công của những công ty Âu, Mỹ này không cao, giá mua của họ cũng khá cao so với giá thị trường, thông qua truyền thông chúng ta có thể thấy một cổ phiếu 20 ngàn nhưng công ty Âu, Mỹ sẵn sàng trả 50-60 ngàn, nhiều công ty Âu, Mỹ thoái vốn nhưng chưa kiếm được đồng lời hoặc lỗ. Không có số liệu chính thức nhưng cháu nghĩ có lẽ tỉ lệ thành công của những công ty Âu, Mỹ tại VN dưới xa con số 40% của Nhật.

    Người Âu, Mỹ rất lý trí, làm việc thực dụng, luôn dựa trên số liệu, lại có kỹ thuật, công nghệ, quản trị hàng đầu thế giới, nhưng cháu không hiểu sao họ lại sẵn sàng trả giá rất cao khi mua cổ phiếu tại VN , luôn đánh giá rất cao một cách quá mức tiềm năng của thị trường VN (chẳng lẽ họ không giỏi trả giá như người Trung Quốc, hoặc người VN giỏi thương lượng giá và giỏi nâng giá hơn người Âu, Mỹ?), chẳng lẽ sự thực dụng, kỹ năng quản trị tiên tiến thế giới, cộng với các số liệu biểu đồ, cũng không đủ để họ đánh giá đúng về tiềm năng của những thương vụ M&A tại VN?

    Reply
  • HoangThao

    Thưa thầy, cháu mới là sinh viên nên chưa hiểu hết được tất cả những gì mà thầy chia sẻ ở trên, thầy có thể giải thích thêm cho em đoạn này được không? Em cảm ơn thầy trước

    Trong tình huống mà lãi suất lên đến 20% tại ngân hàng, các quỹ đầu tư tại VN đã cạn kiệt tiền dư thừa và sàn chứng khoán suy sụp không có thanh khoản, thì việc tài trợ cho dịch vụ M&A sẽ rất khó khăn. Tôi thường cổ súy giãi pháp “Niêm yết tại sàn Mỹ”, nhưng doanh nhân VN không mặn mà lắm vì thiếu sự hiểu biết.

    Reply
  • Xuân Trúc

    Bài viết rất bổ ích, nhưng cho em hỏi bài đã có bản tiếng Anh không ạ? vì mục đích sử dụng bằng tiếng Anh nên có những thuật ngữ chuyên ngành mới chính xác. Em cảm ơn ạ.

    Reply

Để lại một nhận xét

© 2014 GÓC NHÌN ALAN

Scroll to top