Thời Điểm Đã Đến Reviewed by Momizat on . Thời Điểm Đã Đến Quỹ đầu tư của chúng tôi quyết định đầu tư vào Việt Nam năm 2006. Đây là thời điểm thú vị sau khi Việt Nam gia nhập WTO, khi mà các nhà đầu tư Thời Điểm Đã Đến Quỹ đầu tư của chúng tôi quyết định đầu tư vào Việt Nam năm 2006. Đây là thời điểm thú vị sau khi Việt Nam gia nhập WTO, khi mà các nhà đầu tư Rating:
>>Trang chủ » Bài tiếng Anh » Thời Điểm Đã Đến

Thời Điểm Đã Đến

Thời Điểm Đã Đến

Quỹ đầu tư của chúng tôi quyết định đầu tư vào Việt Nam năm 2006. Đây là thời điểm thú vị sau khi Việt Nam gia nhập WTO, khi mà các nhà đầu tư trên thế giới trông đợi vào sự trỗi dậy của một con rồng mới của châu Á. Việt Nam có tất cả những đặc điểm của Trung Quốc: sự ổn định chính trị, giá nhân công rẻ, tiềm năng của thị trường nội địa và những khoản trợ cấp vốn lớn cho các dự án FDI. Cụm từ “Trung Quốc cộng một” trở nên phổ biến.

Để giảm thiểu rủi ro chúng tôi làm một thí nghiệm nhỏ trước. Chúng tôi đầu tư một khoản tiền nhỏ tầm 1,5 triệu đô Mỹ vào một công ty chuyên cung cấp dữ liệu và phân tích thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam, mô hình kinh doanh mà chúng tôi đã gặt hái khá thành công 10 năm trước ở Trung Quốc. Chúng tôi thất bại. Lý do chính có thể do chỉ số chứng khoán giảm từ 905 lúc đầu tư xuống còn 380 tại thời điểm hiện tại. Tuy nhiên sự yếu kém về quản trị và nguồn nhân lực có thể dẫn đến thất bại thậm chí trong thời điểm thuận lợi nhất.

Những thất vọng khác đến từ rất nhiều yếu tố khác như hệ thống quan liêu, những nhà đầu cơ cơ hội, giao dịch nội gián một cách công khai, và việc không sẵn sàng áp dụng luật với những nhóm lợi ích. Chúng tôi không phải là nạn nhân duy nhất. Ngoại trừ những nhà đầu tư chiến lược chịu chấp nhận việc liên tiếp lỗ vốn để tạo chỗ đứng trên thị trường, hoặc những kẻ cơ hội lợi dụng những ưu đãi cũng như sự tham ô của quan chức, phần lớn các nhà đầu tư FDI đều bị ảnh hưởng bởi môi trường kinh doanh khó khăn, các đối tác không đang tin cậy hoặc sự can thiệp khó dự đoán trước của chính phủ. Tình hình kinh tế vĩ mô và mối quan hệ không tốt với công nhân càng làm làm tình hình trở nên khó khăn hơn. Trong năm  2011 vốn FDI giảm 36% và nhiều dự án đang tiến hành bị ngừng lại nếu số vốn đầu tư ban đầu không đáng kể.

Quỹ cúa chúng tôi cũng đã sẵn sàng rút vốn, tuy nhiên khi có thêm một vài sự chuyển biến, chúng tôi đã xem xét lại quyết định này. Sự thật là chúng tôi đang lên kế hoạch cho những phi vụ đầu tư lớn cho những năm tiếp theo.

Khi chúng tôi vào thị trường năm 2006, Việt Nam được gọi là “thị trường của người bán”. Giá tài sản cao, các đối tác nội địa kiêu căng, các điều lệ phức tạp và những doanh nhân Việt Nam kiếm tiền một cách quá dễ dàng để nghĩ đến những quy luật thông thường của thị trường. Họ đưa hối lộ và đầu cơ để có một khối tài sản khổng lồ khi mà vốn từ nước ngoài và các khoản vay ODA đổ vào ồ ạt. Chính phủ và các công ty đã phạm phải nhiều lỗi, điển hình là khoản lỗ 4.5 tỷ đô của tập đoàn nhà nước Vinashin năm trước và những khoản nợ xấu ở hầu hết các ngần hàng Việt Nam. Thêm vào đó, tài nguyên thiên nhiên như rừng, mỏ và môi trường bị khai thác và tàn phá nghiêm trọng.

Việt Nam đã trở thành “thị trường của người mua” ở thời điểm hiện tại. Bong bóng bất động sản được dự đoán sẽ xì hơi trong năm 2012 và thị trường chứng khoán có thể sụp đổ bất cứ lúc nào. Chính phủ cam kết sẽ cứu trợ các ngân hàng bằng mọi giá, và trong khi đây là một tin tốt cho các cổ đông ngân hàng, đây là một tin xấu cho tỷ lệ lạm phát và giá trị của đồng Việt Nam. Một điều mỉa mai là trong “năm rồng” nền kinh tế của con rồng mới này sẽ chạm đáy mới và những nhà đầu tư trong tương lai có thể tìm mua dễ dàng các tài sản tốt ở những vụ bán tháo.

Tuy nhiên, lý do quỹ chúng tôi tăng đầu tư ở Việt Nam trong những năm tới không chỉ để mua tài sản với giá rẻ mạt. Bất kể có hấp dẫn thế nào chăng nữa, tài sản không tạo ra nguồn thu nhập ổn định vẫn sẽ là một gánh nặng. Chúng tôi mong đợi nhiều hơn ở Việt Nam và ba lý do cho sự lạc quan của chúng tôi đến từ ba sự thay đổi chính trong môi trường kinh doanh.

Trước tiên, chúng tôi trông đợi sự thay đổi cốt lõi trong cách các đối tác và nhà quản lý trong nước điều hành doanh nghiệp. Cách kiếm tiền dễ dàng từ đầu cơ và các mối quan hệ vẫn sẽ tiếp tục nhưng ở quy mô nhỏ hơn. Các doanh nhiệp Việt Nam sẽ buộc phải thay đổi để thích ứng với cách điều hành doanh nghiệp phổ biến và thỏa mãn những yêu cầu từ những khách hàng tiềm năng. Để tiếp cận nguồn vốn đầu tư mới, họ phải chỉ ra được sự trung thực và minh bạch để bán ra những sản phẩm và dịch vụ có chất lượng và độ sáng tạo cao. Để có thể trụ vững trong môi trường cạnh tranh, họ sẽ cần những nhà quản lý có năng lực, thậm chí là những nhà quản lý ngoại quốc. Để tạo được lòng tin và thương hiệu, họ phải có những chiến lược kinh doanh dài hạn.

Thay đổi tích cực thứ hai đến từ sự điều hành nền kinh tế từ phía chính phủ. Sự phung phí vào những dự án “ruột” của các chính trị gia sẽ giảm mạnh. Nguồn dự trữ ngoại hối đang ở mức thấp đáng báo động, trong khi khả năng vay nợ của Việt Nam từ thị trường thế giới bị hạn chế vì chỉ số tín dụng kém và khủng hoảng nợ công ở châu Âu. Thêm vào đó, những người năm quyền nên nhận ra rằng giờ đây lời nói không có nhiều ý nghĩa. Cách duy nhất để có được niềm tin của người dân là làm những gì đã hứa.

Vào năm 1986 chính phủ đã miễn cưỡng phải tiến hành đổi mới khi nền kinh tế gặp quá nhiều khó khăn. Năm 2012, những chính sách mới (đổi mới phần 2) nên được thi hành. Buổi tiệc đã đến hồi kết với những tập đoàn nhà nước đang chật vật và nhiều dự án lãng phí ở các tỉnh thành. Những nhà đầu tư ngoại quốc tôn trọng sự bảo vệ môi trường và các điều luật kinh tế khác sẽ có cơ hội được đầu tư môt cách tự do với sự ít can thiệp hơn từ phía chính quyền.

Cuối cùng, sự thay đổi tích cực nhất là các công ty tư nhân sẽ được cạnh tranh ở các ngành trước đây chỉ dành cho các tập đoàn nhà nước. Sự thay đổi này sẽ khiến Việt Nam trở thành một điểm đầu tư hấp dẫn hơn Trung Quốc. Trong khi các tập đoàn nhà nước ở Trung Quốc hùng mạnh với sự hỗ trợ từ chính phủ và nguồn tài chính dồi dão có thể dễ dàng đánh bật các đối thủ cạnh tranh, các tập đoàn nhà nước ở Việt Nam không giống như vậy. Sự yếu kém của các nhóm tập đoàn nhà nước sẽ lộ ra trong cuộc khủng hoảng kinh tế trong năm tới và sự vận động chính trị của các công ty này sẽ kém hiệu quả hơn. Một vài năm nữa, sức mạnh của những tập đoàn này sẽ giảm đi đáng kể bởi sự cạnh tranh từ các công ty tư nhân và nước ngoài.

Sẽ luôn có một khả năng nhỏ rằng cuộc khủng hoảng sẽ làm trỗi dậy các thành phần bảo thủ ở Việt Nam. Các thành phần này sẽ đưa đất nước trở về nền kinh tế tập trung và kế hoạch hóa. Sẽ luôn có khả năng chính phủ và những nhóm lợi ích sẽ đặt ra nhiều rào cản trong các hoạt động kinh tế nhằm bảo vệ quyền lực cũng như đảm bảo sự chấp hành của người dân. Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng cuộc khủng hoảng kéo dài và có ảnh hưởng sâu rộng sẽ dẫn đến những thay đổi đáng kể nhằm tạo ra điều kiện sống tốt hơn cho người dân. Đi ngược lại với lợi ích người dân và sự tự do hóa trên toàn cầu cũng đồng nghĩa với việc tăng thêm rủi ro khi tách biệt ra khỏi nền kinh tế toàn cầu.

Thực tế là một sự thay đổi tịch cực gần đây đã chỉ ra hướng đi của những chính sách của chính phủ trong tương lai. Việt Nam đã trở thành một thành viên TPP (Hiệp định thương mại xuyên Thái Bình Dương). Mặc dù việc ký kết trên giấy tờ một hiệp định tự do hóa thương mại không chắc sẽ dẫn đến những hành động cụ thể từ bộ máy quan liêu, tuy nhiên hiệp định này sẽ tạo ra sự trông đợi nhất định từ các đối tác nước ngoài và các công ty nội địa. Vì vậy Việt Nam sẽ phải gánh chịu hậu quả nếu không làm theo những gì đã ký kết. Vụ Vinashin có thể được cho qua vì đây là một công ty độc lập, nhưng một hiệp định ký kết bởi Chủ tịch nước và Thủ tướng chính phủ là sự cam kết của một quốc gia.

Dr. Alan Phan

(Bản dịch Việt Ngữ do Kiên Đào thực hiện)

Time is right

Our fund decided to invest in Vietnam in 2006. Those were heady days after the joining of the WTO by Vietnam, as worldwide investors were looking forward to the rise of a new dragon in Asia. Vietnam had all the characteristics of emerging China: political stability, low labor costs, potential in the domestic maket and hefty subsidies for FDI projects. The “China-plus-one strategy” was a fashionable catchphrase. To minimize the risks we dipped our toe in to
test the water first. We invested a small sum of US$1.5 million in an information and analytical
database on Vietnam’s stock market, a business model that we marketed quite successfully in
China ten years earlier. We failed. The main reason might have been the fact that the stock
index went down from 905 then to about 380 today, but the weakness of our local managerial
and human talent could have caused failure even in the best of times. Other disappointment came from myriad causes suffocating bureaucracy, opportunistic daytime traders, open manipulation by insiders, and a lack of will to enforce laws on special interests, among others.
We were not alone. Except for strategic investors who accepted continuous losses to
gain market position, or small opportunists who came to exploit Government incentives and cor-
ruption, most FDI investors suffered one way or another from the difficult invironment, unreliable local partners or uncertain governmental intervention. The macro-conditions of the
economy and volatile labor relations added to the woes. In 2011 there was a fall of 36 percent
in FDI commitments and many ongoing projects were abandoned if the initial investment sum was small. Our fund was ready to pull the plug too, but new factors emerged and we re-considered the decision. In fact, we are planning major new investments in the next few years. When we came in 2006, Vietnam was what everybody called “a seller’s market”. Asset prices were high, local partners were arrogant, regulations were complicated and Vietnamese entrepreneurs were making money too easily to care about conventional wisdom. They bribed and speculated their way into huge fortunes as foreign investments and ODA loans rushed in at dizzying rate. Mistakes were made by both Government and business, culminating in the US$4.5 billion loss by the State-owned Vinashin last year and the current bad debt problems of the majority of Vietnamese banks. In addition, natural resources like forests, mines and the environment were over-exploited and severely damaged. Now, Vietnam has turned into “a buyer’s market”. The real estate bubble is expected to explode by 2012 and the stock market is ready to crash and burn at any moment. The Government declared that they will save the banks at any price, and while this is good news for bank shareholders it is very bad new for the inflation rate and the value of the Vietnam dong. Ironically, in the coming “Year of the Dragon” the economy of this new dragon should hit a new bottom and future investors could enjoy shopping for hard assets at many major fire sale events.

However, for our fund, the reason for increasing our investment in Vietnam in the next few years is not  just to pick up dirt cheap properties. After all, no  matter how attractive the price is, a non-income producing asset is still a burden. We expect more from Vietnam and the three reasons for our optimism come from three major changes in the economic environment. First of all, we expect fundamental change in the way our local partners and managers will conduct business. The easy money from speculation and relationships (quan he) will persist but the scale of the wholesale practice will not. Vietnamese entrepreneurs will be forced to change and adapt their behavior to fit  into the universal corporate governance and free market of high-end customers, they must offer requirements. To obtain access to new capital, they have to show honesty and transparency. To sell to stable makets quality and innovative products or services. To prosper in a competitive environment, they will need a new crop of capable managers, even if they are imported. To build trust and brand names, they must base their business strategy on a long-term vision and plan. The second positive change comes from government regulation and execution. The continuous spending on pet projects at lavish cost by politicians will be reduced sharply. The foreign exchange reserve is at a dangerously low level, while the borrowing ability of Vietnam in capital markets is greatly limited, thanks to its poor credit record and the European debt crisis. Besides, the power holders should realize by now that “talk is cheap”. The only way to ensure popular support is to deliver on your words.

In 1986 the government was reluctantly forced to promulgate the “doi moi” (renewal) policy out of economic despair. In 2012, a new set of regulations, or “doi moi part II” should be introduced. The party may finally be over for many struggling State- Owned enterprises and many wasteful municipal projects. FDI investors who respect environmental and other commercial laws will be welcome to operate with freer hands and less intervention. Finally, the best major change will be the fact that private entrepreneurs will be allowed to compete in many restricted industries that have been reserved for the State-owned sector. This situation will make Vietnam a better place to invest in than China. While State-owned or dominant companies in China are strong and powerful with political and financial  resources to muscle in on their competitors, their Vietnamese counterparts are not. The weakness of Vietnamese State-owned corporate groups will be revealed during the economic crisis next year and their political lobby will be less effective. Within a few  years, the power of these corporate groups will be significantly weakened from private and foreign competition. There is always an outside chance that a crisis will bring out the conservative faction in Vietnam, who will use the opportunity to drag the country back to the old road of centralization and a planned economy. There is always the possibility of the Government and its entrenched interest groups enforcing more restrictions on economic activities to protect its power and ensure civil obedience. However, I think the crisis will be long and deep enough to force major changes to create better living conditions for the populace. To go against the people’s interest and the global liberalization tide is to choose a greater risk of disintegration. In fact, a recent positive sign indicated the likely direction of future Government plans. Vietnam readily agreed to become a member of TPP ( The trans Pacific Strategic Economic Partnership). While the signing on paper on the regional free trade agreement does not necessarily translate into concrete action by the bureaucracy, the announcement created expectations from foreign partners and local business that could backfire if Vietnam does not move forward as promised. Vinashin could be dismissed as a private matter, but an agreement signed by the President and the Prime Minister is a national commitment.

Dr. Alan Phan

(This article was published by Vietnam Financial Review Issue No. 53 & 54 , January 2012)

Dr. Alan V Phan is the author of seven books on the economics and management of emerging markets, most recently “Hedge Funds and China’s Stock Market” and “42 Years of Doing Business in the US and China”. He is Chairman of Viasa Fund, a family office located in Hong Kong. Dr. Phan obtained his Ph.D, DBA, MBA and BS in the US and Australia.


Bình luận (6)

  • MarkNguyen

    I’ve been on and off Vietnam many times and decided not to do business there. As an old saying goes like this…”…if you sit on a card table and don’t know who will be the losers, it’s most likely that the loser is you”.

    It seems that I’ve made a right decision a few years back.

    Reply
    • song khoe

      “Learn the rules before sitting in the card table.”
      The rules for playing in Vietnam’s table like the rules that Mr. Alai Phan played in China.

      Reply
  • Hoàng Lân

    I’m working in a commercial enterprise, I regularly follow and update the macroeconomic decision of the Government.
    There are a few mistakes in my previous projects to think that we have opportunities in major projects of the Government (bauxite in Tay Nguyen and Dung Quat Oil Refinery in Quang Ngai province), where we spent too much effort and time to promote the provision of supplies contract (luckily not spend so much money).
    It made me realize that “all hope your business in the market economy under socialist orientation is hopeless.” Products, services and prices despite your best against your competitors, you still lost to them unless you manage the amount of bribes and the relationship large enough to dominate
    Now I only could swim in my own pond and waiting for a flood to transit through the streams, into rivers and the sea, whether it will be very difficult. Anyway, hope still better. Recently, there have been some good news .
    We wish everyone healthy and peaceful!

    Reply
  • Nam

    Cháu không đọc được tiếng Anh nên rất cảm ơn Kiên Đào đã dịch bài viết.

    Đầu năm nay cháu có khả năng huy động khoảng vốn 100-200 triệu VNĐ từ người quen để đầu tư mua bán chứng khoán, khoản tiền đó lỗ cháu không cần chịu trách nhiệm, lời cháu sẽ được chia lãi. Nghiên cứu về chứng khoán từ giữa năm trước đến đầu năm nay, nhưng quả thật cháu gặp rất nhiều bất lợi.

    1. Bất lợi đầu tiên: Không có bất kỳ mã cổ phiếu nào ở sàn HOSE và HNX có thể đầu tư dài hạn từ 1 năm trở lên.
    Lý do: Trên thị trường chứng khoán không có bất kỳ thông tin nào có thể dự đoán được diễn biến của thị trường chứng trong dài hạn.

    2. Bất lợi thứ hai: Chỉ có thể lướt sóng chứng khoán ngắn hạn nhưng không thể tin tưởng vào các báo cáo tài chính, bản cáo bạch, báo cáo của các cơ quan quản lý chứng khoán, quyết định kinh tế vĩ mô của nhà nước. Điều này tạo ra rủi ro cực kỳ lớn vì không có bất kỳ tài liệu nào có độ tin cậy trên 50% để đánh giá diễn biến của thị trường chứng khoán trong ngắn hạn.

    3. Bất lợi chung: Đây là bất lợi lớn nhất.
    - Báo cáo tài chính của bất kỳ mã chứng khoán nào có đóng dấu đỏ của bất kỳ ai cũng có những thông tin không thể kiểm chứng được.
    - Bản cáo bạch của bất kỳ mã chứng khoán nào cũng quá khoa trương, thổi phồng.
    - Cơ quan quản lý chứng khoán “giơ cao đánh khẽ”.
    - Quyết định kinh tế vĩ mô dễ bị thay đổi vì tổ chức quyết định cảm thấy có sai sót trong quyết định ban đầu hoặc do cảm tính.
    - Nhóm lợi ích có quá nhiều đặc quyền trong giao dịch mà những người giao dịch bình thường không có.
    - Có “thỏa thuận hậu trường sân khấu” dành cho nhóm lợi ích, “thỏa thuận hậu trường sân khấu” này làm méo mó tất cả những quy định chính thức mà tất cả những người giao dịch thông thường bắt buộc phải tuân theo, làm thay đổi mạnh các mã chứng khoán khiến cho giá chứng khóan thay đổi bất thường.
    - Chưa đủ khả năng xâm nhập vào “hậu trường sân khấu” để quan sát một nguồn lực rất lớn hàng ngày đang tác động đến giá cả của các mã chứng khoán.

    Chính 3 bất lợi trên khiến cháu không thể đầu tư được dài hạn, đầu tư ngắn hạn có thể kiếm được lợi nhuận nhưng không có tính ổn định lâu dài. Điểm bất lợi thứ ba (3.) là điểm quan trọng nhất để có thể đánh giá tương đối chính xác về diễn biến của thị trường chứng khoán trong ngắn hạn, nhưng chính vì không tiếp cận được nhóm “đứng sau hậu trường” để xem thực sự chuyện gì đang diễn ra nên đành không đầu tư vào chứng khoán.

    Reply
    • song khoe

      Nếu xem xét các Blue Chip thì đầu tư dài hạn từ 2009 – 2013 đều có lãi (trừ SJS). Nếu cầm VNM thì lãi tình theo lần rồi. Vậy sao nói “Không có bất kỳ mã cổ phiếu nào ở sàn HOSE và HNX có thể đầu tư dài hạn từ 1 năm trở lên.”?
      Còn các bất lợi khác thì đó là chuyện thường gặp ở thị trường mới nổi thôi: Hight risk – hight return

      Reply
  • Hồng Quang

    Nếu “lạc quan” thêm thì rất có thể sẽ thấy 1 lý do thứ 4 cho sự thay đổi đầy cơ hội ở VN: SỰ ĐE DỌA TỪ BIỂN CỦA TQ.

    Đe dọa này sẽ đẩy nhanh quá trình dân chủ và hội nhập để tăng khả năng tự vệ, thay vì bị cô lập như 1979. Miến Điện là 1 ví dụ khá gần.

    Thôi hãy hy vọng để hy vọng rằng, những tinh hoa VN sẽ ko phải bỏ xứ ra đi lần nữa dù đã thấy… quê hương hồi sinh.

    Reply

Để lại một nhận xét

© 2014 GÓC NHÌN ALAN

Scroll to top