Tập đoàn không sản phẩm Reviewed by Momizat on . Phỏng Vấn T/S Giáp Văn Dương Thứ ba, ngày 22 tháng năm năm 2012 “Tập đoàn không sản phẩm” là một hiện tượng có thật ở Việt Nam, thay vì tập trung phát triển nhữ Phỏng Vấn T/S Giáp Văn Dương Thứ ba, ngày 22 tháng năm năm 2012 “Tập đoàn không sản phẩm” là một hiện tượng có thật ở Việt Nam, thay vì tập trung phát triển nhữ Rating:
>>Trang chủ » Sân Chơi Của Khách » Tập đoàn không sản phẩm

Tập đoàn không sản phẩm

Phỏng Vấn T/S Giáp Văn Dương

Thứ ba, ngày 22 tháng năm năm 2012


“Tập đoàn không sản phẩm” là một hiện tượng có thật ở Việt Nam, thay vì tập trung phát triển những sản phẩm chủ lực, góp phần tạo ra sức mạnh bền vững của nền kinh tế, các tập đoàn này và một phần lớn các công ty đang hoạt động lại nhắm đến các đầu tư hoặc đầu cơ ngắn hạn, thiếu bền vững. Một trong những nguyên nhân chính của tình trạng này là việc thiếu tầm nhìn công nghệ và thiếu cập nhật về các trào lưu công nghệ mới của giới doanh nhân. 

 

Tại một buổi tọa đàm về chủ đề “Tầm nhìn Công nghệ” dành cho giới doanh nhân, Tiến sĩ Giáp Văn Dương đã có cuộc trao đổi với với nhiều doanh nhân trẻ tại TP. Hồ Chí Minh vào ngày 13/05/2012 tại trường doanh nhân PACE.

Ông khái quát thế nào về bối cảnh cũng như sự cần kíp của việc áp dụng công nghệ vào sản xuất đối với việc phát triển kinh tế của một quốc gia?

Tiến sĩ Giáp Văn Dương: Trong vài năm trở lại đây, thế giới đã chứng kiến nhiều cuộc khủng hoảng lớn, như khủng hoảng về tài chính (2008), khủng hoảng lương thực ẩn sau cuộc khủng khoảng tài chính 2008, khủng hoảng nợ Châu Âu… Một trong những nguyên nhân chính của điều này là đầu cơ và chụp giật ích ngắn hạn đã trở thành phổ biến trên toàn cầu, tạo ra một nền kinh tế ảo, hay “kinh tế đánh bạc”. Theo thống kê, năm 2007, mỗi ngày trên thị trường chứng khoán Mỹ có tới 70 ngàn tỷ USD luân chuyển mua  bán, và toàn thế giới là 120 ngàn tỷ USD, trong khi tổng GDP của thế giới chỉ khoảng 60 ngàn tỷ USD/năm, tức là bằng một nửa số tiền lưu chuyển trên thị trường chứng khoán trong một ngày. Cũng trong năm này, tổng giá trị của thị trường tài chính phái sinh đã lên đến một triệu tỷ USD, gấp mười lần tổng GDP của cả thế giới trong thế kỷ XX. Những con số khổng lồ và vô lý, phải không?

Vậy lượng giá trị được trao đổi lớn như vậy lấy ở đâu ra? Câu trả lời là không ở đâu cả. Chúng chỉ là những con số. Tức là những giá trị ảo.  Nền kinh tế thực tế đang trở thành nền kinh tế ảo. Khủng hoảng vì thế sẽ không tránh khỏi. Thực tế cho thấy, các cuộc khủng hoảng lớn xảy ra ngày càng gần nhau hơn. Đây có thể coi là hệ quả tất yếu của nền kinh tế ảo, mang nặng tính đầu cơ chộp giật này.

Như vậy, có thể nói, phía sau các cuộc khủng hoảng tài chính, khủng hoảng lương thực, khủng hoảng nợ là một cuộc khủng hoảng khác, cơ bản hơn, là khủng hoảng mô hình phát triển, không chỉ ở từng doanh nghiệp mà còn ở quy mô quốc gia. Điều này gióng lên hồi chuông cảnh báo về việc cần tìm kiếm các mô hình phát triển bền vững, trong đó có việc quay lại với việc sản xuất ra các sản phẩm thực sự. Suy cho cùng, chính sản xuất mới là xương sống của nền kinh tế, và sản phẩm thực mới làm nên sức mạnh thực của doanh nghiệp. Nhưng muốn sản xuất thì phải có công nghệ. Đó là lý do vì sao doanh nhân cần phải có tầm nhìn công nghệ.

Nền kinh tế ảo là một mô hình phát triển không bền vững, vậy tại sao vẫn có rất nhiều nước, nhiều doanh nghiệp chạy theo mô hình này?

Trả lời câu hỏi này là cả một câu chuyện dài. Nhưng nói ngắn gọn thì đây là trò chơi của các ông lớn. Trong một nền “kinh tế đánh bạc” như vậy, họ là những chủ sòng, nên luôn thu lợi nhanh và nhiều nhất. Nhiều người thấy vậy nên cũng làm theo. Nhưng khi quá sức chịu đựng của nền kinh tế thì khủng hoảng nhất định sẽ xảy ra. Những doanh nghiệp làm ăn nghiêm túc, và những người lao động thiện lương, cũng sẽ bị cuốn vào như những nạn nhân.

Xét về góc độ định hướng phát triển, chính ông cũng từng hỏi rằng Việt Nam sẽ là gì của thế giới?

Đúng vậy! Đây là một câu hỏi dằn vặt cho tất cả những ai quan tâm đến sự phát triển của Việt Nam. Giáo sư Philip Kotler có gợi ý rằng “Việt Nam là bếp ăn của thế giới”. Nhưng tôi, và có lẽ rất nhiều người nữa, chưa thỏa nguyện, nên vẫn tiếp tục tìm câu trả lời, trước hết là về mặt lý thuyết. Và tôi cho rằng, người thực sự trả lời được câu hỏi này không phải là những người làm chính sách, cũng không phải các học giả, mà chính là các doanh nhân.

Hiện giờ thì chưa có câu trả lời rõ ràng, nhưng tôi tin rằng câu trả lời sẽ dần phát lộ trong sự vận động của nền kinh tế và của những nghiên cứu lý thuyết trong thời gian tới.

Theo ông, trong 10 năm nữa, Việt Nam sẽ là gì của thế giới?

Bản thân tôi không thể tiên đoán Việt Nam sẽ là gì của thế giới trong 10 năm nữa. Nhưng tôi cho rằng, để phát triển được thì Việt Nam phải trở thành một hội điểm đầu tư, vườn ươm ý tưởng.

Muốn vậy, nhà nước cần có cơ chế và chính sách đúng dẫn đường. Còn chuyện đầu tư cái gì, ươm gieo ý tưởng nào, là chuyện cụ thể của nhà đầu tư và các doanh nhân.

Nếu các nước phát triển hạn chế việc đầu tư ra nước ngoài thì liệu có còn cơ hội phát triển cho những đất nước đang cần nguồn vốn đầu tư nước ngoài như Việt Nam hiện nay?

Đúng là đang có những kêu gọi từ những nước phát triển hạn chế đầu tư sản xuất ra nước ngoài nhằm khôi phục năng lực sản xuất trong nước. Tuy nhiên, họ cũng chỉ tính chuyện giữ lại một số ngành sản xuất chủ chốt, có thương hiệu. Do đó, nhu cầu đầu tư sản xuất ở nước ngoài vẫn rất lớn. Đối với một nước đang phát triển và đi sau như Việt Nam thì điều đáng quan tâm là chọn nguồn đầu tư vào lĩnh vực nào thì phù hợp và góp phần phát triển bền vững cho đất nước mình.

Ở mức độ nhỏ hơn, thì đối với doanh nghiệp, bài toán đặt ra là sản xuất cái gì và như thế nào để trước hết là cạnh tranh, và sau đó là phát triển bền vững được. Điều này lại một lần nữa đòi hỏi các doanh nhân phải có một tầm nhìn công nghệ, vì sản xuất bao giờ cũng đi liền công nghệ.

Ông đánh giá như thế nào về thực trang áp dụng công nghệ của các doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ?

Chắc chắn là còn rất yếu và hạn chế. Đây là tình trạng chung của Việt Nam. Trong năm 2010, Việt Nam chỉ đăng ký được hai sáng chế tại Mỹ, trong khi Nhật có đến hơn 44.000, Đài Loan hơn 8000. Ngay cả những tập đoàn công nghệ lớn của Việt Nam cũng không sở hữu một sáng chế công nghệ nào. Bên cạnh đó, năng suất lao động và mức lương của nhân công Việt Nam chỉ ở mức bằng 2,5% so với nhân công Mỹ. Điều này không phải do công nhân Việt Nam làm việc ít thời gian hơn, sức khỏe kém hơn hay lười làm việc hơn, mà do công nghệ chúng ta đang sử dụng lạc hậu hơn so với họ rất nhiều. Tất nhiên, cũng phải kể đến sự kém phát triển của nền kinh tế nói chung nữa.

Vậy mấu chốt để các doanh nghiệp giải quyết vấn đề này nằm ở chỗ nào thưa ông?

Tôi cho rằng các doanh nghiệp phải chuyển hướng. Thay vì tập trung đầu tư vào những thứ ngắn hạn, tìm kiếm lợi nhuận trước mắt thì cần phải tính đến chuyện phát triển bền vững, thông qua việc phát triển sản xuất ra các sản phẩm thực sự có khả năng cạnh tranh, hoặc cung cấp các dịch vụ đích thực. Mà muốn làm được điều này thì một lần nữa, doanh nhân cần phải am hiểu về công nghệ. Nói cách khác, doanh nhân phải có tầm nhìn công nghệ để định hướng phát triển cho doanh nghiệp của mình.

Xin cám ơn ông!

Hải Ninh (lược ghi)

——

Bình luận (19)

  • BB

    Tôi sẽ làm gì…? theo C/V Tómm tắt sau:

    Cha: LXô (Chết)
    Mẹ: TQ (Ly thân)
    Bằng cấp: ThS chính trị, T/S tự phong
    Nghề nghiệp: Đánh nhau

    Cam kết: hoàn thành mọi nhiệm vụ được tổ chức phân công và nghề nghiệp đào luyện.

    Reply
  • NGUYEN HUNG

    cong nghe ,????
    nguoi co von thi khong can cong nhe lam gi chang ra tien
    nguoi muon dau tu cong nghe thi khong kiem dau ra von , cu vay dai dai

    Reply
  • Green Vietnam

    Khủng hoảng mô hình, mô hinh chính là nền tảng cho sự phát triển ổn định…sợ nhất là khi ta chưa tìm thấy một mô hình mới cho sự phát triẻn kế tiếp, tức là lý luận chưa đi trước được thì chúng ta sẽ còn loay hoay trong khủng hoảng

    Reply
  • Đình Trung

    Trong các sách kinh tế học thường phân biệt kinh tế thực – sản xuất hàng hóa, và kinh tế ảo – thị trường tài chính. Dường như điều đó cũng được ảnh hưởng bởi luận điểm biện chứng của Marx về sự vận động của tư bản: tiền – hàng – tiền. Thực ra sự phân biệt như vậy sẽ gây khó khăn trong việc giải thích vì sao giá trị chứng khoán lại tăng trưởng nhanh một cách ngạc nhiên. Đó chỉ là những giá trị tạm thời mà một khi được nền kinh tế kiểm chứng, chúng sụp đổ còn nhanh hơn cách chúng sinh ra.

    Ngay cả việc phân biệt một cách mơ hồ hàng hóa và dịch vụ cũng là một hạn chế của kinh tế học hiện đại. Cả hai đều là sản phẩm của nền kinh tế, và chúng đều có thể bị nền kinh tế từ chối nếu một dạng sản phẩm cụ thể nào đó tăng trưởng quá nhanh, gây ra sự bất hợp lý trong cấu trúc giá trị kinh tế.

    Chính vì thế tên gọi “Tập đoàn không sản phẩm” có vẻ chưa ổn lắm. Chẳng qua giá trị sản phẩm của tập đoàn quá nhỏ so với số lượng của nó được ghi nhận.

    Tại sao lại có hiện tượng đó? Quá rõ. Adam Smith đã giải thích trong “Bàn tay vô hình”. Có điều ông không nói là sự tự điều chỉnh của thị trường lại giật cục và gây ra khủng hoảng như vậy.

    Gần đây người ta mong chờ sự can thiệp của “bàn tay hữu hình” của nhà nước. Tốt thôi. Nhưng đó phải là bàn tay sạch sẽ và khéo léo trong điều phối nội lực, đủ sức chống chọi với những cơn bão khủng hoảng từ thế giới bên ngoài ập đến.

    Còn giải pháp về Công Nghệ Mới để cứu vãn nền kinh tế chỉ là một yếu tố nhỏ nhoi. Mỗi một sáng kiến của cá nhân hay một nhóm đều có nguy cơ bị những con cá mập tập đoàn nước ngoài nuốt chửng. Nếu kiên quyết giữ lại thì sản phẩm làm ra cũng là khó có thể hoàn chỉnh và cạnh tranh so với sản phẩm cùng loại của thế giới. Sáng kiến chỉ có thể đóng góp cho nền kinh tế một phần nhờ giảm chi phí mua chúng từ nước ngoài, hoặc bán chúng để thu ngoại tệ.

    Điều căn bản không phải nằm ở công nghệ, mà là cách tổ chức nền kinh tế sao cho hợp lý. Cứ công nhận Việt Nam là “bếp ăn của thế giới” đi. Hãy cải tạo sao cho cái bếp ấy ngăn nắp, sạch sẽ, hiện đại đã là quá tốt lắm rồi.

    Reply
    • HuuCuong

      Gửi Đình Trung,

      Tôi rất thích những gì bạn viết,

      Có thể cho mình số điện thoại hay email không?

      Thân chào,

      HC 0918098050

      Reply
    • Trong Le

      Đình Trung phân tích rất có lý nhưng mình nghĩ rằng ý của T/S GVD là bí quyết công nghệ chứ không phải chỉ có ‘thuê hay mượn hay mua hay lấy cắp’ công nghệ của ngưới khác. Mà muốn làm được điều này thì doanh nghiệp VN cần kiên nhẫn và tập nhìn xa và thật xa hơn nữa. Mình cũng đồng ý với T/S GVD rằng công nghệ hay bí quyết công nghệ sẽ giúp kinh tế VN phát triển bề vững.

      Reply
  • Đăng Tuân

    “Việt Nam là gì của thế giới? …” …” chính là các doanh nhân”
    Chính phủ VN không nghĩ thế và cũng chả bao giờ làm thế!! Doanh nhân “sẽ như thế nào” là do chính sách “thay đổi theo chiều nào” !

    Reply
  • Minh

    Con so bac ko duoc an toan , Khi noi ra su that, con Xin bac hay than trong vi cs o khop moi noi. Hon Thien song nui se Che cho cho bac

    Reply
  • Đặng Hậu

    Bài viết của bác Alan rất sâu sắc… ở Việt nam hiện tai mô hình tập đoàn không sản phẩm đang nở rộ như hoa mùa xuân. Vì lợi nhuận trước mắt mà các doanh nhân việt bất chấp tất cả để kiếm tiền, có công ty ra đời có 1 tháng mà kiếm tới 17 tỷ ( là con số có thật ) để rồi sau đó đóng cửa., hậu quả sau đó thì chúng ta ai cũng đoán được ..Sự thiếu hiểu biết và tầm nhìn dài hạn cho nên các doanh nghiệp việt ,nay thành lập mai đóng cửa diễn ra như cơm bữa. Nếu các doanh nghiệp VN mà không thay đổi cách nhìn, không có hiểu biết về công nghệ thì sớm muộn chính chúng ta sẽ bị đào thải khỏi cuộc chơi ngay trên sân nhà, miếng bánh đó để cho cac doanh nghiệp nước ngoài sâu xé.
    MOng rằng tầng lớp doanh nhân trẻ việt nam, hãy lấy chữ TÂM + TÀI để điều hành doanh nghiệp , có vậy thì mới hy vọng doanh nghiệp việt vươn ra tầm thế giới được.

    Reply
  • porsche nguyen

    Tập đoàn không có sản phẩm : ý nói đến cac tập đoàn đầu cơ tài chính .

    Nhưng ko thể nói là họ không có sản phẩm được , sản phẩm của họ chính là những quyết định đầu tư của họ , 1 khi họ nắm cổ phiếu của 1 công ty hay 1 tập đoàn nào bất kỳ , thì chính các sản phẩm của công ty , tập đoàn đó sẽ trở thành sản phẩm của họ . còn khi họ đầu tư dàn trải ra như các quỹ chỉ số thì tất tần tật các sản phẩm do nền kinh tê đó tạo ra hầu hết đều là sản phẩm của họ .

    Reply
  • JackZhang

    Tập đoàn không có sản phẩm, đúng và rất đúng.. nếu bạn nhờ mr. google help thì ổng tìm ra rất nhiều group ở xứ này… và họ không có gì ngoài mấy cáy giấy cho mượn đất của CP. Họ có số mã stock ở international, họ có business plan, maste plan họ có trên giấy nhiều thứ… nhưng họ không có TIỀN … sory. What you can doing???

    Reply
  • LQV

    Bài toán không phải là CÔNG NGHỆ mà là GIÁ THÀNH (có khả năng cạnh tranh hay không). Công nghệ chỉ là một trong các giải pháp, công cụ.

    Reply
  • Trinh ngon

    Bài nhận xét của Đình Trung, mình thì Like rồi đó. Cách viết và nhận định của bạn có cơ sở và cũng sâu sắc.
    Còn như Đặng Hậu nói : công ty mới thành lập có 1 tháng mà có thể kiếm được tới 17 tỷ để rồi đóng cửa, Mình không biết thực hư điều đó thế nào, bạn có thể đưa ra 1 minh chứng không? Nhưng nếu quả thực có chuyện đó, mình nói thật cũng muốn xách dép theo mà học hỏi, chỉ trừ khi công ty đó làm ăn phi pháp thế nào thôi. Chứ nếu nếu theo đúng luật( cho dù là né tránh luật hợp lý) thì quả thật cũng là thiên tài nhỉ> Và nếu công dân VN mình có nhiều người như vậy thì cũng làm giàu cho đất nước rồi ( nếu áp dụng cách kiếm tiền hợp pháp đó ở nước ngoài mà mang ngoại tệ về cho nước nhà).

    Reply
  • Trinh ngon

    Còn việc nay thành lập mai giải thể, điều đó chỉ làm mất ổn định nền kinh tế nước nhà và gây khó khăn trong sự quản lý kinh tế mà thôi. Nhưng với cách kiếm tiền nhanh mà không phạm pháp thì không mấy người có thể làm được, và việc thành lập rồi làm ăn không hiệu quả giải thể là chuyện khó tránh khỏi, có gì là lạ. Cách nhìn và công nghệ? Công nghệ chẳng qua chỉ là phương tiện giúp chúng ta đi nhanh hơn, tốn ít thời gian và công sức hơn thôi, nó như là cái đòn bẩy với nguồn lực nhỏ mang lại thành quả lớn.
    Nhưng sáng tạo ra công nghệ hay có công nghệ mà không biết tổ chức, sắp xếp sử dụng thì cũng bằng thừa. Người khác sáng tạo ra nhưng ta biết cách vận dụng linh hoạt đạt hiệu quả thì vẫn hơn.
    Như vậy , quan trọng là dân VN mình có tiếp cận được cái công nghệ hay không, có thừa hưởng và làm sao để sử dụng tốt đạt hiệu quả cái công nghệ tiên tiến của thế giới. Cách tổ chức sử dụng như thế nào mang lại hiệu quả cao.

    Reply
  • Nguyen Tien Lap

    Bài viết của Giáp Văn Dương rất hay, nhưng mới là phân tích hiện tượng thôi mà chưa đi đến bản chất tức gợi mở ra giải pháp. Tuy nhiên để thảo luận tiếp thì có lẽ chúng ta phải cùng đứng trên một điểm và chung một tầm nhìn (hay hệ quy chiếu). Có hai vấn đề: xây dựng doanh nghiệp và xây dựng quốc gia (nation building), ta đang bàn đến điều gì. Đối với nhà đầu tư, doanh nghiệp là công cụ kiếm tiền nên họ chẳng dại gì làm công nghệ cho mệt người trong khi buôn chứng khoán và đất đai nhàn hạ và giàu nhanh hơn. Tuy nhiên, để xây dựng quốc gia thì doanh nghiệp lại đóng vai trò khác, là bộ phần cấu thành của nền kinh tế và do đó phải bền vững v.v.. Nhưng đó là công việc của nhà chính trị. Vậy thực trạng dở dang và ngổn ngang của đất nước này thuộc lỗi của ai đây ? Đáng tiếc là chúng ta không có và không còn các nhà chính trị mà chỉ có tầng lớp quan lại thôi, và họ đang điều hành quốc gia theo kiểu phong kiến, “ăn trên ngồi chốc” và kiếm bổng lộc từ thiên hạ. Vâng Việt Nam và nhiều quốc gia nữa vẫn còn là như vậy. Buồn lắm thay !

    Reply
  • Nguyễn Tài Phú

    Chúng ta dường như không muốn sản xuất cái gì, Từ con ốc, buloong cũng thấy rất thô kệch so với hàng ngoại..tôi là kỹ sư chế tạo máy..mà cả đời chả có chỗ nào làm đúng đam mê của mình cả…Kiến thức của mình chỉ đi bán máy móc, ô tô, máy công trình cho các hãng nước ngoài thôi..Nhiều khi nghĩ lại thấy phí công ăn học quá…

    Reply

Để lại một nhận xét

© 2014 GÓC NHÌN ALAN

Scroll to top