Y Đức nhìn từ góc độ hệ thống Reviewed by Momizat on . Tác giả: NVT   Thứ hai, 25 Tháng 2 2013 22:33 Thông thường những dịp lễ hay kỉ niệm ngành nghề, người ta thường ôn lại những thành tựu chuyên môn qua nghiê Tác giả: NVT   Thứ hai, 25 Tháng 2 2013 22:33 Thông thường những dịp lễ hay kỉ niệm ngành nghề, người ta thường ôn lại những thành tựu chuyên môn qua nghiê Rating:
>>Trang chủ » Sân Chơi Của Khách » Y Đức nhìn từ góc độ hệ thống

Y Đức nhìn từ góc độ hệ thống

Tác giả: NVT

 

Thứ hai, 25 Tháng 2 2013 22:33

Description: http://www.chauchang.com/wp-content/uploads/2013/01/yduc_phongbi.jpg

Thông thường những dịp lễ hay kỉ niệm ngành nghề, người ta thường ôn lại những thành tựu chuyên môn qua nghiên cứu khoa học và đóng góp cho cộng đồng. Thế nhưng Ngày Thầy thuốc ở Việt Nam lại là ngày người ta bận rộn với vấn đề rất cơ bản: y đức. Hai vấn đề liên quan đến y đức mà công chúng đang quan tâm hiện nay là vấn nạn “phong bì” và quyền của bệnh nhân. Bài đã gửi cho Người lao động, nhưng chắc báo không đủ “đất” để đi cho đủ, nên tôi gửi lên đây để gọi là chia sẻ cùng các bạn vài suy nghĩ cá nhân.

Đưa “phong bì” cho nhân viên y tế là một đề tài gây ra nhiều tranh cãi. Có người cho rằng nạn phong bì chỉ là “con sâu làm rầu nồi canh“, nhưng trong thực tế thì không phải chỉ là vài con sâu, mà rất phổ biến đến nỗi người ta xem đó là điều bình thường. Theo một nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí Minh mới công bố năm qua, có đến 76% bệnh nhân được hỏi cho biết đã từng đưa phong bì cho nhân viên y tế. Một nghiên cứu trước đó ở Hà Nội cũng cho thấy khoảng 70% bệnh nhân đưa tiền cho y bác sĩ.

Thật ra, ở nước ngoài, bệnh nhân cho quà bác sĩ cũng khá phổ biến. Trong một cuộc điều tra ngẫu nhiên trên 378 bác sĩ Anh, có đến 20% cho biết họ từng nhận quà từ bệnh nhân trước đó 3 tháng. Giá trị trung bình của món quà là 15 USD. Quà thông thường nhất là rượu, kế đến là chocolate, và tiền mặt.

Tặng bác sĩ một món quà nhỏ, thậm chí tiền, có vi phạm y đức hay không còn tuỳ thuộc vào động cơ của bệnh nhân và người nhận. Cho quà để cám ơn có lẽ không có vấn đề y đức. Nhưng cho quà với động cơ tác động đến bác sĩ hay nhân viên y tế nói chung để được đặc lợi là một hình thức hối lộ, và bác sĩ nhận quà trong trường hợp này là tham nhũng. Do đó, bác sĩ nhận quà trong tình huống đó thể hiện một sự vi phạm đạo đức nghề nghiệp. Bác sĩ có nghĩa vụ phải trung thành với bệnh nhân. Làm lời từ việc điều trị bệnh nhân là một cách vi phạm lòng trung thành đó. Nhận quà cũng làm xói mòn mối liên hệ đặc biệt mang tính đạo lí giữa bác sĩ và bệnh nhân.

Thật vậy, trong nghiên cứu vừa đề cập trên, khi được hỏi tại sao đưa phong bì, 65% bệnh nhân cho biết vì muốn được ưu tiên, được giải quyết nhanh hơn, và trong trường hợp y tá, bệnh nhân tin rằng đưa tiền là một cách mua được sự nhẹ nhàng trong tiêm chích thuốc! Một bệnh nhân ở Hà Nội nói với báo chí rằng “Nếu không có phong bì lót tay, bệnh nhân rất ít được quan tâm tận tình, chu đáo […] những người nghèo đi bệnh viện bị đối xử một cách bất công. Những người có tiền lại được đối xử một cách khác.”

Y đức ảnh hưởng đến kinh tế

Nhưng ngay cả người giàu có cũng không mặn mà với hệ thống y tế hiện nay. Báo chí trong tuần qua cho biết mỗi năm có đến 40.000 người ra nước ngoài điều trị, và họ đã phải chi khoảng 2 tỉ USD (40 ngàn tỉ đồng) ở nước ngoài. Đó là một số tiền rất lớn. Các giới chức y tế trong nước khẳng định rằng các bệnh viện Việt Nam có đủ thiết bị và bác sĩ thừa trình độ chuyên môn để điều trị mà bệnh nhân không cần ra nước ngoài. Có giới chức tuyên bố rằng trong một số lĩnh vực, bác sĩ Việt Nam là bậc thầy, từng giảng dạy cho bác sĩ ngoại quốc. Thế nhưng, bất chấp những thành tựu tuyệt vời đó, bệnh nhân có điều kiện kinh tế vẫn tìm cách ra nước ngoài điều trị.

Khi được hỏi lí do ra nước ngoài điều trị, những bệnh nhân này cho biết họ thấy bác sĩ ngoại quốc tốt hơn về nhân cách so với bác sĩ Việt Nam, những người mà họ nghĩ rằng có vấn đề về y đức. Ngoài ra, các bệnh nhân giàu có này còn nói rằng họ không ấn tượng với môi trường bệnh viện Việt Nam (dơ bẩn, chật chội, nguy hiểm) và thích môi trường bệnh viện sạch sẽ ở nước ngoài. Nói cách khác, họ sẵn sàng chi thêm tiền chưa chắc để mua kĩ năng, nhưng để mua thái độ và y đức, để được đối xử tốt hơn, và để mua môi trường sạch sẽ. Có thể nói rằng vấn đề y đức đã ảnh hưởng đến kinh tế Việt Nam.

Tình trạng còn nghiêm trọng hơn vì vấn nạn phong bì không hẳn chỉ do bệnh nhân “làm hư” bác sĩ, mà chính do bác sĩ chủ động. Năm 2011, kết quả khảo sát trên 6000 độc giả của báo Dân Trí cho thấy có gần 3/4 bệnh nhân đưa phong bì do bác sĩ hoặc y tá gợi ý. Những lí do đưa phong bì thì có nhiều, nhưng tựu trung lại là nhằm gây ảnh hưởng đến cách ứng xử của bác sĩ và nhân viên y tế, như một bệnh nhân nói “muốn được việc và muốn nhanh, muốn ‘đỡ đau’.”

Vấn đề hệ thống

Những sự thật trên đây có thể là chứng cứ cho thấy nhân viên vị phạm y đức là xuất phát từ khiếm khuyết của hệ thống y tế. Tuy có nhiều yếu tố dẫn đến vi phạm y đức, nhưng trong tình huống Việt Nam, hai yếu tố quan trọng nhất dẫn đến thái độ phục vụ của nhân viên y tế chưa đạt là vấn đề quá tải bệnh viện và lương bổng.

Việt Nam hiện nay có khoảng 1200 bệnh viện với ~185,000 giường bệnh trên toàn quốc. Trong số này, số bệnh viện tuyến huyện chiếm đa số (gần 50%), nhưng số giường bệnh tuyến huyện chỉ chiếm 31% tổng số. Gần 1/3 bệnh viện là tuyến tỉnh, nhưng số giường bệnh chiếm 50% tổng số. Tuy chỉ có 39 bệnh viện cấp trung ương (chiếm 3% tổng số bệnh viện), nhưng số giường của các bệnh viện này chiếm 11% tổng số giường bệng toàn quốc. Những con số trên đây cho thấy hệ thống điều trị chủ yếu tập trung vào một số bệnh viện cấp trung ương và tỉnh, trong khi đó cấp cơ sở (huyệ) thì thấp.

Do đó, không ngạc nhiên khi thấy tất cả bệnh viện tuyến trung ương và tuyến tỉnh đều quá tải. Những bệnh viện lớn như Chợ Rẫy và Bạch Mai, số bệnh nhân lúc nào cũng cao hơn số giường từ 50 đến 70%. Riêng bệnh viện K, số bệnh nhân cao hơn số giường gấp 2.5 lần! Ngay cả các bệnh viện tuyến tỉnh cũng quá tải 15%. Xu hướng này càng ngày càng gia tăng chứ không giảm.

Trong điều kiện quá tải như thế, thời gian tiếp xúc giữa nhân viên y tế và bệnh nhân rất ngắn. Tuy chưa có nghiên cứu nghiêm chỉnh, nhưng thời gian bác sĩ tư vấn cho bệnh nhân chỉ khoảng 2-5 phút. Có không ít trường hợp bác sĩ chẳng cần nói hay khám bệnh nhân, mà chỉ nhìn và ra toa thuốc. Cần nói thêm rằng nghiên cứu ở ở nước ngoài (Âu châu và Úc) cho thấy thời gian bác sĩ tiếp xúc bệnh nhân là khoảng 10 phút cho mỗi bệnh nhân (dao động trong khoảng 3 đến 30 phút). Thời gian tiếp xúc bệnh nhân có liên quan đến chất lượng phục vụ. Do đó, không ngạc nhiên khi chất lượng phục vụ y tế ở Việt Nam chưa được tốt. Trong môi trường mà bác sĩ phải khám cho cả trăm bệnh nhân với đủ loại bệnh tật và đủ thành phần thì rất khó đòi hỏi sự bình tĩnh của người thầy thuốc. Một bác sĩ tóm lược rằng ở các bệnh viện quá tải, người bác sĩ chỉ có thì giờ điều trị bệnh, chứ không thể nào có thì giờ chữa trị người bệnh. Đó cũng chính là lí do người bệnh cảm thấy bác sĩ Việt Nam vô cảm và … khó ưa.

Bệnh viện tuyến huyện nói chung không có quá tải, một số thậm chí còn được sử dụng dưới công suất. Vấn đề chính ở đây là bệnh nhân không tin vào bác sĩ cấp huyện. Trong cái nhìn của phần lớn bệnh nhân, bác sĩ tuyến huyện không có kĩ năng và kinh nghiệm cao như bác sĩ cấp trung ưng hay cấp tỉnh. Tuy chưa có nghiên cứu nào cho thấy niềm tin này là đúng, nhưng những tai biến y khoa xảy ra gần đây ở một số bệnh viện tuyến huyện là một số minh chứng cho niềm tin đó.

Về phía bệnh nhân, trong môi trường quá tải và đông đúc, họ phải tìm cách để được ưu tiên. Cho quà và tiền để gây ảnh hưởng là thiết thực nhất. Gây ảnh hưởng ở đây bao gồm được ưu tiên điều trị (không xếp hàng), được hưởng đặc lợi (như nằm phòng đặc biệt), v.v. Về phía bác sĩ, họ cũng có động cơ nhận tiền, vì đồng lương quá thấp. Có thể nói rằng chưa có Nhà nước nào trên thế giới xem thường và đối xử tệ với bác sĩ (và thầy cô giáo) như ở Việt Nam. Họ là những học sinh tinh hoa nhất, học hành lâu nhất và gian nan nhất (so với các ngành khác), nhưng khi tốt nghiệp, họ chỉ hưởng đồng lương chỉ khoảng 100-150 USD/tháng, tức không khác mấy khi so sánh với lương của một công nhân. Với một đồng lương như thế, họ khó có thể trang trải trong cuộc sống đắt đỏ hàng ngày. Trong bối cảnh đó, cám dỗ của đồng tiền rất lớn, mà không phải ai cũng có khả năng đề kháng được. Một xã hội xem rẻ rúng những người thầy (thầy thuốc và thầy dạy học) như thế thì quả là có vấn đề. Dĩ nhiên, đồng lương thấp và quá tải không phải là một biện minh cho vi phạm y đức, nhưng đó là những môi trường làm cho người ta vi phạm.

Y đức không phải luật pháp, mà là qui ước. Đó là nhưng chuẩn mực đạo đức và điều lệ về hành nghề được các thành viên trong ngành nghề chấp nhận như là những kim chỉ nam cho việc hành nghề. Y đức, do đó, là một luật luân lí về hành vi của con người liên quan đến những gì được xem là tốt và đúng, so với những gì được xem là xấu và sai. Để xác định được một hành động hay quyết định là tốt hay xấu, người quyết định phải so sánh những lựa chọn của họ với những tiêu chuẩn mà xã hội chấp nhận. Chuẩn mực y đức, ngay từ thời Khổng Tử, đã được xem như là một chuẩn mực của đạo đức xã hội. Nếu trong một xã hội mà mọi người (hay đa số) chấp nhận việc hối lộ cho nhân viên y tế là một hành vi bình thường, thì đó cũng chính là một tín hiệu cho thấy đạo đức xã hội đang xuống cấp và mất niềm tin giữa người với người.

 

N.V.T

 

 

Description: http://chuabenhdongy.files.wordpress.com/2011/09/danhy-lehuutrac.jpg

Y đức

Y đức hay đạo đức nghề y có lẽ chẳng xa lạ gì với người Việt và các nước chịu ảnh hưởng Khổng Tử. Hải Thượng Lãn Ông (hay Lê Hữu Trác), một danh y của Việt Nam thời giữa và cuối thế kỉ 18, từng nói đến những điều ông gọi là “Y huấn cách ngôn”, có thể hiểu và xem như là những điều lệ về y đức ngày nay. Trong Y huấn cách ngôn, ông dạy rằng người thầy thuốc phải:

  • am hiểu đạo Nho;
  • không được phân biệt bệnh nhân giàu hay nghèo;
  • cẩn thận với khám phụ nữ;
  • lấy việc giúp người là chính chứ không màn đến phú quí giàu sang;
  • nên đặc biệt quan tâm đến bệnh nhân nghèo;
  • phải khiêm tốn và tôn trọng đồng nghiệp.

Một điều quan trọng là ông khuyên “Khi chữa cho ai khỏi bệnh rồi, chớ có mưu cầu quà cáp vì những người nhận của người khác cho thường hay sinh ra nể nang, huống chi đối với những kẻ giàu sang, tính khí bất thường mà mình cầu cạnh, thường hay bị khinh rẻ”.

Những y huấn trên đây của Hải Thượng Lãn Ông thực ra là chịu ảnh hưởng lớn từ y huấn của người Trung Hoa thời xưa. Về am hiểu Nho giáo, Hải Thượng Lãn Ông có cùng quan điểm với hay lấy từ quan điểm của Khổng Tử. Đối với Khổng Tử, nghề thầy thuốc chỉ là một ứng dụng Đạo Khổng trong việc chữa trị người; do đó, Khổng Tử xem y học là một nghệ thuật nhân văn (art of humaneness) và tinh thông những nguyên lí của Đạo Khổng là điều rất quan trọng đối với người hành nghề thầy thuốc. Khổng Tử xem nghề thầy thuốc ngang hàng với thủ tướng. Ông nói “Những ai không có cơ hội làm thủ tướng thì có thể làm thầy thuốc”, vì cả hai người (thủ tướng và thầy thuốc) đều thực hành Đạo nhân văn.

Hải Thượng Lãn Ông từng liệt kê ra một danh sách các vấn đề y đức mà ông cho là “tội”, trong đó có các tội như tội như hóng hách, lười biếng, chẩn đoán qua loa và tội dốt. Theo ông, y sĩ mà thiếu đạo đức thì chẳng khác gì “bọn cướp”.

 

Y đức trong nghiên cứu

Nhưng những vấn đề y đức mà báo chí phản ảnh chủ yếu liên quan đến việc điều trị và tiếp xúc giữa bệnh nhân và bác sĩ trong bệnh viện. Còn một lĩnh vực y đức khác chưa được bàn thảo rộng rãi ở trong nước: đó là mối tương tác giữa bác sĩ và bệnh nhân trong nghiên cứu y khoa. Y khoa tiến bộ nhờ nghiên cứu khoa học, và nghiên cứu cần sự tham gia của bệnh nhân. Sự tham gia của bệnh nhân phải dựa trên tinh thần tự nguyện và ưng thuận có ý thức. Nhưng trong nhiều trường hợp, nhiều bác sĩ đưa bệnh nhân mình vào những công trình nghiên cứu mà không nói cho bệnh nhân biết, và đó là một vi phạm y đức. Ngay cả nghiên cứu tìm hiểu ý kiến và thái độ của bệnh nhân (tức không xâm phạm thân thể) nhưng vẫn phải được xem xét qua lăng kính y đức.

Tình trạng vi phạm y đức trong nghiên cứu rất phổ biến ở các nước đang phát triển. Khoảng 5 năm trước, một cuốn sách về y đức xuất bản ở Trung Quốc làm rúng động lương tâm dư luận một thời gian. Trong sách “Nỗi đau của Trung Quốc”, tác giả là một đại biểu quốc hội bỏ công điều tra và mổ xẻ những vi phạm y đức tràn lan trong giới y bác sĩ Trung Quốc dưới hình thức lừa đảo, bòn rút tiền bệnh nhân, liên minh ma quỉ với các công ti dược để khai thác bệnh nhân “nghiên cứu”, xét nghiệm quá mức (nhằm moi tiền bệnh nhân), hãm hại bệnh nhân, v.v. Nhưng trớ trêu thay, bệnh nhân chẳng biết gì, chỉ nằm nhà chờ chết và tự trách mình nghèo! Cũng trong cuốn sách này, tác giả còn mô tả nhiều bệnh nhân bị đẩy làm đối tượng thí nghiệm khá dã man mà bệnh nhân không hề hay biết, nhưng lại còn cám ơn bác sĩ!

Tôi nhớ có lần nói về đề tài này và nhấn mạnh rằng nghiên cứu trên chuột cũng cần thông qua ủy ban y đức, các đồng nghiệp cười xòa! Mấy năm gần đây thì vấn đề y đức trong nghiên cứu ở nước ta đã được quan tâm. Nhiều nơi đã có hội đồng y đức, dù thành phần của hội đồng này chưa đúng nghĩa với “hội đồng y đức”. Có lẽ chính vì thế nên xảy ra vụ “hút máu” ở Nghệ An mà báo chí nêu lên. Vấn đề y đức trong nghiên cứu khoa học còn phức tạp hơn khi sự việc được xử qua lăng kính pháp lí. Có nhiều nghiên cứu mang tính xâm phạm, và nếu biến cố bất lợi xảy ra cho bệnh nhân thì vấn đề sẽ rất ư phức tạp, vì bệnh nhân có thể yêu cầu sự can thiệp từ giới luật sư. Nhưng may mắn thay, những trường hợp như thế này rất ít khi xảy ra. Do đó, có sự ưng thuận của bệnh nhân cũng là một cách bảo vệ các nhà nghiên cứu trước pháp luật.

Bình luận (29)

  • daochoi

    Khám và phát hiện ra bệnh là rất mừng. Nhưng biết bệnh và có thuốc mà cứ để chết từ từ thế mới bệnh chứ…có khi tất cả đều… ”bệnh” cả rồi !

    Reply
  • bacsitrimun.com

    Y Đức,Y giáo,Y công an,y doanh nhân…Y nào cũng có vấn đề

    Reply
    • BLoc

      Có lẽ bạn định nói: Y đức, Giáo đức, Công an đức, Doanh nhân đức… Đức nào cũng có vấn đề.

      Hệ thống là một tổng thể cái gốc đã Đứt thì mọi thứ phải Đứt thôi, tiếng Việt nó có chút đồng âm của ha từ Đức và Đứt nên vì thế mà chúng “bà con” nhau cũng nên!

      Tôi có rất nhiều bạn bè, bà con, người quen làm bác sỹ, dược sỹ, người tệ nhất cũng đã lấy bằng thạc sỹ, có người gữi chức giám đốc bệnh viện lớn, bệnh viện huyện, kể cả giám đốc sở. May mắn chỉ nghe nói có một bạn là “nuôi bệnh” còn lại thì đều là người thật sự có y đức!? Chuyện nhận quà biết ơn của bệnh nhân sau khi được chửa trị thì có, nhưng chuyện “yêu cầu” thì chưa nghe ai nói về họ bao giờ.

      Khi nghe người ta nói bệnh viện này bệnh viện nọ nơi có họ làm việc, thường có đội ngũ ý tá, hay “cò” “mớm lời về phong bì”, hay có nơi nói rõ cả “ba rem” từng loại bệnh lý, cách chửa trị” tôi thường không tin, đến khi người nhà mình là bệnh nhân thì mới thấy sự thật Y đức xuống cấp đến mức nào. Tôi hỏi những bác sỹ thân quen dó có biết không? Họ trả lời: có biết, nhưng phải giả lơ, ai giữ được sự trong sạch thì là may cho bản thân người đó, vì tối về nằm ngủ không phải trằng trọc thấy nổi đau của bệnh nhân và người nhà của họ bị nhân lên nhiều lần.

      Nói như bạn, mọi cái Đức đều có vấn đề. Để giải thích sự xuống cấp đồng bộ đó một cách hình tượng, đơn giản là người cầm lái đang đưa con tàu của đất nước ta đi vào sương mù hay tệ hơn đi vào đêm đen mà tuyên bố không cần trăng sao hay đèn đuốc thì mọi thứ đều phải tù mù và lạc lối thôi.

      Reply
  • bin

    Lại “lỗi hệ thống” hay “nhà dột từ nóc”. Các bác sĩ họ cũng như chúng mình thôi, tôi gặp nhiều BS tốt.

    Reply
  • Cẩm chướng

    Nếu muốn mở một phòng khám thì việc đầu tiên là Bác sĩ phải có giấy phép KINH DOANH. Nếu ngành y mà được cấp phép như một ngành kinh doanh thì Y Đức có còn nghĩa gì ???

    Reply
  • Hoàng cương

    Câu nói tuy cũ nhưng vẫn có tính thời sự : Đã chọn nghề làm thầy không nên mộng làm giầu !

    Reply
    • nguyễn hương

      Bạn và nhiều người khác đúng là hoang tưởng. Đã là xã hội thì phải có nhiều ngành nghề và nghề nào thì cũng cần để xã hội tồn tại và phát triển. Cứ coi nghề giáo hay nghề bác sỹ là nghề cao quý và những người làm nghề đó vì được xã hội tôn “cao quý” mà chỉ cần mỗi KHÔNG KHÍ để sống ư? Vấn đề là nhiều ngành nghề ở VN hiện nay bị trả công thấp, không xứng đáng để người ta cống hiến. Theo tôi, nếu tôn trọng họ, nếu cho họ là làm công việc cao quý thì phải trả công xứng đáng cho họ.
      Bạn cứ đặt câu hỏi cho chính mình ấy. Nếu việc làm của bạn không nuôi sống được bạn và gia đình bạn (cụ thể là con bạn) thì với tư cách 1 người cha, 1 người mẹ – bạn hoặc có tiếp tục công việc đó không hay là sẽ tìm cách gia tăng thu nhập như: nhận phong bì, ăn cắp thời gian để làm công việc khác (nhưng không phải ai cũng làm được thêm 1 công việc khác),…

      Reply
  • JackZhang

    Không biết có nên gọi xứ này là Đất nước của …đang sống nữa hay không??? con người còn hơn con vật… “….. chỉ có Đứt làm gì có Đức…Thật Tội Nghiệp cho Dân tôi.

    Reply
  • An Nguyen

    Giải quyết vấn đề “phong bì” thật ra khá đơn giản, hầu hết các nhân viên y tế trong các bệnh viện, phòng khám tư nhân ở Việt nam không nhận quà và phong bì của bệnh nhân.

    Reply
    • BC

      Nếu nói là Bác sĩ nhận phong bì có thể là oan cho họ đó. Hồi đó mình có người quen ở Phan Thiết vào Sài gòn cắt túi mật vì sạn, khoảng năm 89-90. Mình đem phong bì vào tận phòng mạch tư của vị Bác sĩ giỏi nghe nói thứ nhì chuyên khoa tiêu hóa của bệnh viện Bình Dân trên đường Điện Biên Phủ. Mình năn nỉ Bác sĩ nhận phong bì để mổ đàng hoàng cho người quen mà Ông ấy không chịu lấy. Lâu ngày rồi mình quên tên vị Bác sĩ đó rồi. Hình như phòng mạch của ông ấy trên đường Cao Thắng thì phải (?) Có thể bạn bị mắc nạn cò mồi rồi đổ oan cho Bác sĩ. Cò mồi thường vô lương tâm nhưng với mình thì Bác sĩ có lương tâm lắm. Mình chưa bao giờ gặp Bác sĩ nào vô lương tâm cả. Thiệt đó.

      Cám ơn các vị Bác sĩ ở Việt Nam mà mình đã gặp qua.

      Reply
  • Huy

    “Có thể nói rằng chưa có Nhà nước nào trên thế giới xem thường và đối xử tệ với bác sĩ (và thầy cô giáo) như ở Việt Nam” – Chắc là vì câu nói này nên bài của bác không được đăng trên báo “lề phải” mà bác đã gửi đến.

    Reply
  • Hnstyle

    Không này và nọ thì làm sao sống được ở VN!
    Mình cũng muống rõ ràng rành mạch, nhưng cứ thử 1 lần đưa con nhỏ vào bệnh viện khám xem, lúc đó bảo gì cũng nghe chứ ko riêng gì khoảng Phòng Bì.

    Reply
  • Padme

    -bố tôi bệnh ra sao?
    -liệt dây thần kinh ..không nuốt thức ăn vào thực quàn được!
    -…
    -thức ăn tràn vào phế quản gây nhiễm trùng máu,đang điều trị bằng kháng sinh mạnh!
    -bác sĩ đã làm gì để xác định bố tôi bịn liệt dây thần kinh…nuốt?
    -bây giờ có CT cũng không thấy rõ được!
    -Bác sĩ căn cứ vào đâu mà bảo bố tôi liệt dây 12?
    -….
    - tôi muốn hỏi về chẩn đoán lâm sàng!
    -….
    - bảo bệnh nhân thè lưỡi ra: lưỡi lệch về bên nào thì dây 12 bên đó bị liệt! vì dây 12 không khi nào liệt cùng lúc 2 bên…trừ phi chúng bị giải phẩu cắt bỏ!
    -…anh làm việc ở bệnh viện nào?
    - vậy bố tôi bị liệt dây thần kinh nào mà không nuốt thức ăn vào bao tử được? tôi đang hỏi bác sĩ đó!
    -…..!
    - không chẩn đoán được bệnh học vậy căn cứ vào đâu để điều trị bệnh nhân?
    -…
    - nói cho bác sĩ biết: bố tôi bị liệt dây số 9 & số 10!
    -….
    -chưa kể đến là không có căn cứ vào xác lập vi khuẩn gây nhiễm trùng máu mà đã dám cho truyền kháng sinh?
    - nếu anh muốn chuyển viện thì tôi sẽ làm giấy giới thiệu chuyển viện!
    …….
    Trên đây là câu chuyện xảy ra vào tháng 3/2008 tại bện viện Hoàn Mỹ trên đường LÊ VĂN SỸ ,Q3,tp HCM.
    Tiếp theo là tại khoa tim mạch BV 115 vào tháng 6/2008 lúc 22g10.:
    - tại sao cô truyền cypro 500 này cho bố tôi?
    -ca ngày bàn giao lại cho em!
    -y lệnh của bác sĩ trực đẩu?
    -….!!!
    -Anh Tuấn (anh vừa ở Mỹ về thăm bố) quay giúp em cảnh này!
    - Long quay đi!(tôi cầm máy quay toàn cảnh & cận cảnh bằng máy điện thoại của anh).cô điều dưỡng vội vừa che mặt ,vừa bỏ chạy!
    -tôi cần gặp bác sĩ trực!
    -bác sĩ ra ngoài rồi!
    -……
    23g chúng tôi ra về
    24 giờ bác sĩ trực cho điều dưỡng mời mẹ & chị gái lên thương thuyết!
    kết quả:
    -sáng hôm sau bố tôi qua phòng dịch vụ (2 người/buồng/máy lạnh),toa thuốc mua (1 triệu/toa/ngày) được giữ lại không cần giao cho điều dưỡng ,bác sĩ quản lý nữa.khi nào cần dùng cho bệnh nhân thì nói người nhà đưa ra & sử dụng tại chỗ.
    - cứ như vậy đến ngày thứ 6 thì bố tôi cắt sốt(do nhiễm trùng).dù đã vào viện 40 ngày trước cứ lơ mơ khi mê khi tỉnh .
    kết luận: toa thuốc sau khi mua về giao cho bệnh viện đã bị tráo bằng thuốc khác(nuôi bệnh),còn số thuốc ấy được đem bán lại cho nhà thuốc ngay trong ngày ấy ,để sáng hôm sau kê toa lại đem ra bán cho bố tôi : bất nhân!
    -sau khi tốn khoảng 100 triệu vnđ /3 tháng không thể hết bệnh.Cả gia đình họp lại quyết định đem về nhà chữa(không cần bệnh viện).vẫn bơm thức ăn theo ống dẫn vào bao tử,vẫn ống thông tiểu do bí tiểu..sau 35 ngày chữa trị tại nhà ông đã bình phục (chi phí khoàng 4 triệu vnđ).

    Thật khốn nạn cho những bệnh nhân thấp cổ bé họng tại việt nam! tất cả đều bị biến thành cừu để chúng chăn dắt để hút kiệt giọt máu cuối cùng rồi đem xẻ r”nai” & chuyện giao cho bầy quạ “bán áo quan-xe tang”

    NGHIỆP CHƯỚNG CHO DÂN TỘC VIỆT!

    Reply
  • nhất sinh

    Tôi “may mắn” được nằm viện mấy hôm ở bệnh viện “Thiên Thần” (Nghĩa tiếng Việt của bện viện này). Một câu chuyện trải nghiệm mà cứ mỗi lần nói đến chuyện đi bệnh viện ở VN là tôi lại đem ra kể cho bạn tôi nghe! Bệnh viện này cở 1 bệnh viện tuyến huyện ở VN ta. Cảm nhận đầu tiên là sự bố trí khoa học từ bước đăng ký đến khám và nằm điều trị. Cái làm tôi suy nghĩ nhất chính là thái độ của y bác sĩ. Sự ân cần, dịu dàng được coi là chuẩn mực của đội ngũ y bác sĩ. Tôi nằm trong 1 phòng bệnh có 3 giường bệnh, mỗi giường bệnh bên cạnh là 1 cái ghế cho người nhà bệnh nhân đến chăm non người bệnh, cái ghế này có thể kéo dài ra thành chiếc giường để tối có thể nằm. Thuốc được tiên theo phác đồ và tuân thủ tuyệt đối về mặt thời gian tiêm thứ thuốc đó. Cô hộ lý rất đẹp (có lẽ là 1 tiêu chí tuyển hộ lý và y ta chăng) một sự cảm nhận nhẹ nhàng giúp bệnh nhân yên lòng. Mỗi lần cô đến tiêm hay hỏi han các triệu chứng của tôi đều nhẹ nhàng hết sức có thể. Mỗi sáng đều có khoảng 5 đến 10 bác sĩ và y tá đến bên giường bệnh hỏi và ghi vào nhật ký (bệnh án) các triệu chứng của bệnh nhân…Họ không có thái độ phân biệt bạn là ai, họ chỉ biết bạn là bệnh nhân.
    Tất cả mọi cán bộ nhân viên đều đi nhẹ nói khẻ, và bắt buộc phải đeo giày có đế cao su mềm. Khi bạn đi chụp X quang hay các xét nghiệm bạn được 1 hộ lý đẩy xe chở đi, không phải bạn không đi đươcj vì đau chân mà đó là nhiệm vụ của họ. Lúc đầu tôi không hiểu chuyện đó nên bị nhắc nhở (vì ở VN làm gì có mà biết).
    Khi tôi về VN lần đầu đưa vợ đi đẻ tôi phát hoảng khi vợ tôi phải nằm chung 1 giường cùng 1 bà đẻ khác. Từ đó về sau tôi luôn được người bạn thân là bác sỉ ở bệnh viện tuyến tỉnh khuyên: không nên nằm viện vì đó là cơ hội để bạn mắc 1 thứ bệnh khác do môi trường. Bệnh viện Thiên Thần nơi tôi nằm là 1 khách sạn 5 sao theo nghĩa thái độ phục vụ, vệ sinh và đẹp đẻ!
    Bài viết nói rất đúng người VN ra nước ngoài điều trị vì họ muốn mua một dịch vụ, 1 thái độ ân cần chứ chưa hẳn là nghiệp vụ chuyên môn ở nước đó!

    Reply
    • nhất sinh

      Bệnh viện “Thiên Thần” ở Đài Loan các bạn nhé! Tôi quên không ghi.

      Reply
      • BLoc

        Bạn ở bệnh viên “thiên thần” thì sao bằng bệnh viên “thiên đường” ở VN!

        Bạn tôi có cô vợ trẻ đẹp, bệnh nặng phải nhập viên, vậy là ở BV Đa Khoa ĐN họ bố trí nằm chung gường với một bệnh nhân nam, vậy có phải cái anh bệnh nhân đó đang được điều trị ở bệnh viên “thiên đường” không?!

        Reply
        • BC

          Chuyện của BLoc làm mình cười đau cả bụng.
          Đừng lo, khi bệnh mà phải vào bệnh viện thì nam cũng như nữ, nằm mệt đứ đừ, chả dám ho he gì đâu BLoc ạ. Cô nằm bên cạnh dù có đẹp như tiên giáng phàm thì có cũng như….không. Hihihiiiiiii….

          Reply
  • lê văn minh

    nếu bác sĩ ngoại quốc làm việc với cường độ như bác sĩ việt nam , và hưởng như đồng lương như bác sĩ việt nam . thì họ sẻ hành xử ra sao nhỉ! bác sĩ ngoại một ngày khám từ 6 tới 12 bệnh nhân là cùng , còn bác sĩ ta từ 60 d0ến 120 bệnh , có khi đến 200 bệnh gấp 10 lần .lương thì bằng 1/10. con người chứ đâu phải tiên phật gì đâu?

    Reply
  • BC

    Kỳ về VN vừa rồi, xui xẻo làm sao mà 2 thằng cháu nhỏ vừa từ Nha Trang về tới Bà Rịa là nó bị phát bệnh “tay-chân-miệng”. Dự định cho tụi nó chơi ở Bình Châu rồi Long Hải, rồi Vũng Tàu rồi bắt ông Chú tổ chức 1 đêm “vượt biên” trở lại cho vui, thế mà chả được, tức ghê! Phải đưa tụi nó vào nhà thương Bà Rịa rồi chạy gấp về Sài Gòn cấp cứu, rồi lấy vé bay về Mỹ gấp.

    Vậy là cũng có được nhiều kinh nghiệm với nhà thương Việt Nam. Khi ghé Bà Rịa, thấy nhà thương sao mà cũ kỹ ghê, cửa nẻo gì mà bể tùm lum, đèn đuốc tối om om, mình chợt nghĩ thương cho dân quê, cũng may là Bà Rịa cũng chưa là vùng quê lắm mà đã như vậy rồi. Muỗi bay véo véo như chấu. Lúc đó là khoảng một hai giờ sáng, bác sĩ và y tá trực cũng được hơn chục người. Họ rất hiền từ, lương y như từ mẫu, họ cũng khám rất đàng hoàng, mình cũng đọc báo thấy nói phải đưa phong bì nhưng mình không biết đưa ở đâu, đưa cho ai nữa. Chả lẽ lại đưa trước mặt thì kỳ cục….Nói chung là mình phục những vị bác sĩ, y tá ở bệnh viện này, họ tận tâm và hiền lắm. Bện việ nghèo nên áo trắng của Bác sĩ bị úa màu. Tuy bề ngoài úa nhưng lòng họ không úa. Đó là nhận xét của mình.

    Nếu bạn có bệnh gì mình xin giới thiệu về bệnh viện Bà Rịa để chữa. Nếu bạn không có bệnh ráng…rặn ra một bệnh nào đó như “Tào Tháo rượt” chẳng hạn để ghé thăm xem lời mình nói có đúng không. Cầu chúc cho những vị Bác sĩ, Y tá nơi này luôn mạnh giỏi, và giữ được tấm lòng với bệnh nhân nhé.

    Reply
  • nhất sinh

    Bạn Le van Minh than! Sao bạn ko hỏi ngày xưa trên bom dưới đạn bác sĩ, y tá của ta đâu có thiếu tình người đâu bạn? Bạn ko nên lấy lý do lương và cường độ công việc để lấp liếm cái đức của con người. Một người ăn mày vừa trả cái nhẩn kim cương bạn có đọc ko? Sao họ ko dấu biệt đi vì nghèo vậy? Chắc bạn sẽ lấy lý do vì đường sá vn xấu quá, bụi quá nên CSGT phải ăn hối lộ để bồi dưỡng cơ thể nhỉ!

    Reply
  • Trung

    Ha ha ha, Mác nói đúng: Con người phải thỏa mãn 3 nhu cầu: ăn, mặc, ở đã sau đó mới tới các nhu cầu khác: làm khoa học, nghệ thuật, chính trị,….! Và ở VN, ĐCSVN đang thử xem lại vấn đề đó bằng cách trả lương thấp cho toàn xã hội! Kết quả là xã hội VN đang loạn cả lên với những tiêu cực vì lý do LƯƠNG THẤP, KHÔNG ĐỦ SỐNG hoặc đơn giản hơn là TIÊU CỰC ĐƯỢC MÀ KHÔNG TIÊU CỰC THỈ KẺ KHÁC NÓ CŨNG CHỬI CHO! Cay đắng cho dân tộc VN……

    Reply
  • tvs

    Đúng là lỗi thất đức của nhiều y bác sỹ là sản phẩm của một hệ thống hỏng từ trên xuống dưới nhưng bên cạnh đó cũng là quan niệm tư duy suy nghĩ đạo đức của mỗi người từ khi là học sinh sinh viên ngồi trên giảng đường hay khi đã đi làm bởi sự cám dỗ của đồng tiền và nền tảng đạo đức được hun đúc nhiều năm.Có nhiều bác sĩ khi đưa phong bì họ tuyệt đối từ chối không nhận có lẽ nền tảng đạo đức của người này là rất tốt và vững chắc nhưng có rất nhiều bác sỹ tuy đã có rất nhiều tiền(có thể đi làm ngoài giờ hay tiền biếu xén nhiều năm của người bênh) nhưng họ vẫn tham lam vô độ và coi việc nhận quà cáp hay gợi ý người bệnh,người nhà bệnh nhân là việc thản nhiên và tất yêu vậy, những thành phần này thì nhiều vô kể và tồn tại ở các cấp. Những con người này cần phải nên án và có lẽ cầu mong có nhân quả với những kẻ này.Hành động của những kẻ này làm cho người bệnh và người nhà bệnh nhân dần mất niềm tin vào đội ngũ y đức và khi mọi người chấp nhận đó là một thực tế hiển nhiên tồn tại thì hệ quả xã hội này sẽ toàn giả dối lừa đảo hơn nữa nghề y nghệ giáo là nghề cao quí trong các nghề mà còn như vậy thì xã hội này rồi sẽ theo nhau đi vào suy thoái băng hoại mà thôi lúc đó có mà ngải cứu! Thật là đau xót cho một dân tộc đoàn kết và tự hào 4000 năm lịch sử vẻ vang. Nghe mà chua xót
    Cách đây gần 2 năm mẹ tôi có mổ sỏi thận ở bệnh viện BƯU ĐIỆN cơ sở ở Định Công tôi trực tiếp chăm sóc thì mới thấy hết được văn hóa phong bì nơi đây. Ở đó ai có phong bì sẽ được ưu tiên chăm sóc mổ sẻ trước. Ở phòng nằm chờ kết luận và mổ cùng mẹ tôi còn có 4,5 người tỉnh lẻ và hình như những người này cũng lần đầu đi viện nên không biết gì nhiều về văn hóa phong bì cũng như mẹ con tôi đến lỗi còn được ông tiến sĩ trưởng khoa thận tiết liệu gọi điện chăm sóc chu đáo và mời qua phòng ông để thảo luận riêng trước khi chuẩn bị mổ.Khi đến cửa phòng ông thì đã thấy hàng dài người ở đó và mọi người đang hỏi nhau rằng ông bỏ phong bì bao nhiêu bà bỏ phong bì nhiều không rồi cứ lần lượt cùng tôi mang phong bì cho ông. Như tôi ước tính mỗi người phong bì 1 triệu như tôi(có người còn hơn vì có điều kiện hơn tôi nhiều) thì có lẽ một ngày mổ của ông không dưới 15 triệu vậy mà ông này không biết làm điều mất dạy này bao nhiêu năm rồi. Tôi nghĩ sao thằng bác sĩ này tham lam và dã man thế, đã nhiều tiền như thế mà không biết dừng lại vẫn hành hạ bệnh nhân nghèo. Văn hóa phong bì này gần như tôi được chứng kiến ở hầu hết các bệnh viện cho đến bây giờ bởi hiện tôi cũng làm việc liên quan đến y tế và thường xuyên có mặt tại các bệnh viện ở các cấp từ trung ương đến địa phương. những người thân quen của tôi đã đi viện dù ở trung ương đến địa phương có lẽ tôi chưa thấy ai nói là khi đưa phong bì mà bác sĩ từ chối hơn thế nữa họ còn gợi ý hoặc làm những hành động vô đạo đức để được phong bì( như tiêm đau, thay băng không cẩn thận hay vờ không thèm dòm ngó…).
    Theo tôi để có thế kìm chế và thủ tiêu văn hóa phong bì trong y tế hay giáo dục nói riêng thì cấn phải thực hiện những điều sau:
    1.Làm mạnh mẽ việc tuyên truyền giáo dục dạy dỗ các tầng lớp nhân dân đặc biệt là giới trẻ về đạo đức lương tâm căn bản của con người là như thế nào và phải làm cho họ biết sợ một cái gì đó kiểu như nhân quả trong đạo phật
    2. Cải cách mạnh mẽ về chính sách lương thưởng cho đội ngũ của các ngành này. Đặc biệt phải trao quyền tự chủ cho các bệnh viện cạnh tranh sòng phẳng lành mạnh với nhau dưới sự giám sát của cơ quan quản lý hay các tổ chức có thẩm quyền. Ngoài đồng lương cao còn tạo điều kiện cho họ có thêm thu nhập từ công việc nơi họ làm việc như việc cổ phần hóa các bệnh viện và điều này theo tôi là rất cần thiết
    3. Có lẽ cũng phải có qui định cụ thể và rõ ràng chặt chẽ và nghiêm khắc với những đối tượng khi hành nghề y đức. Có lẽ với những con người này thường xuyên cho họ tuyên thệ trước trời đất với đồng nghiệp và nhân dân(giống như kiểu lễ nhậm chức của các tổng thống mỹ) về đạo đức nghề nghiệp, được phép làm gì hay phải làm gì mà không được phép làm cái gì và nếu bị phát hiện là cho nghỉ việc cấm hành nghề. Nếu nghiêm khắc công bằng và minh bạch cạnh tranh sòng phẳng thế này thì có lẽ sẽ chẳng có ai làm những việc trái lương tâm đạo đức.
    4. Nhà nước có chính sách ưu tiên những sinh viên khá giỏi mới ra trường về các vùng xa vùng xâu tỉnh lẻ làm việc rồi thường xuyên kiểm tra đào tạo bồi dưỡng nhân viên y tế ở cấp cơ sở tuyến dưới theo định kỳ khoảng 3 năm một lần nếu ai không đạt sẽ bị giảm biên chế để mọi người cùng cố gắng nỗ lực học tập làm sao cho khoảng các dưới tuyến trên tuyến dưới giảm dần chánh quá tải cho tuyến trung ương để chánh dẫn đến tệ nạn xấu.

    Tất cả chỉ có vậy! Hi vọng mong ước của mình sớm thành hiện thực! a mô!

    Reply
  • lang

    Tôi chăm sóc ngươi nhà 2 tháng trong bv nên biết nhiều chuyện buồn cười lắm. Khi chích thuốc cho người nhà mình thì y tá nhẹ nhàng và thăm hỏi, còn khi chích cho bà kế bên thì lụi 1 phát làm bệnh nhân la oai oái. cả 2 bệnh nhân đều dạng bảo hiểm chi trả, chỉ khác người nhà mình đã được gởi bs trước rùi. hehe
    Thật tình thì cũng có bs, y tá có tâm nhưng chỉ chiếm 20% thôi. Báo chí cũng từng điều tra la các cty dược phải chung chi cho bệnh viện thì mói có cơ hội trúng thầu thuốc, còn muốn bs kê đơn ghì hoa hồng 20-30%. Tất cả chi phí này sẽ đổ lên đầu người bệnh. Mình biết 1 bs nhi có 1 phòng mạch nhỏ ngoài giờ mà nuôi cả anh chị em, 2 đứa con được cho đi học nước ngoài từ lúc đang học lớp 6.

    Reply
  • Tung

    Chuyện phong bì chắc không bao giờ hết được, lâu rồi không đến bệnh viện tưởng mọi thứ khác rồi, nhưng cách đây 1 tuần vừa đi khám bệnh thấy vẫn thế: làm xét nghiệm được y tá gợi ý “bồi dưỡng” để có kết quả sớm, chuẩn bị mổ được bác sĩ gợi ý “bồi dưỡng” bác sĩ mổ, kíp mổ….Thôi dù sao đến bệnh viện mình cũng được “bồi dưỡng” tí kiến thức thực tế, chứ cứ ngồi nhà mà xem chương trình của VTV thì chắc chẳng mấy thành người rừng mất, mà có khi lại mất mạng oan vì không biết” bồi dưỡng”.

    Reply
  • Lê Viết Dũng

    Cái phong bì nó đi vào tiềm thức của xã hội bây giờ rồi.Cán bộ nhỏ không kiếm phong bì thì làm sao có tiền để phong bì cho sếp to hơn.Sếp to lại phải phong bì cho lãnh đạo vừa.Lãnh đạo vừa lại phải phong bì cho lãnh đạo to…
    Phông bì tác dụng như dầu nhớt của một cỗ máy nếu thiếu nó máy báo lỗi và không hoạt động được.Như vậy là xã hội sẽ dừng hoạt động nếu thiếu phong bì bôi trơn.
    Ai cũng biết nhưng nếu đặt địa vị mình vào vị trí của một người nhận phong bì xem có từ chối không?
    Rất khó đấy.

    Reply
  • doc gia

    Thẳng thắn mà nói, việc phong bì chẳng qua là trộn lẫn trắng đen thôi. Có có thể là tệ nạn như chúng ta được hiểu nhưng cũng chỉ là tiềnTip (tiền boa) thôi. Cái chính là ở động cơ

    Các yếu tố: a. Chuyên môn; b. Đạo đức nghề nghiệp: Sự tuân thủ nội quy và quy định của tổ chức, sự tận tâm và đúng quy trình trong nghề nghiệp; c. Lợi thế về mối quan hệ trong công việc; d. Nhu cầu lợi danh của con người: có thể ít nhiều và tác động của nó lên điều tôi sẽ nói sau đây thì bạn đọc có thể hiểu; e. Khó khăn tài chánh bất ngờ. Bạn có thể thêm nhiều yếu tố khác, tùy góc nhìn.

    Xét:
    1. a: yếu + b: Khả năng họ mưu lợi cá nhân để bảo vệ mình là cao vì yếu tố đào thải trong công việc. Khả năng họ nâng cao chuyên môn có thể đạt được khi họ có đủ khả năng trí não, kiên trì với mục tiêu và nên tài chánh ổn, xác xuất cải thiện chuyên môn theo tôi nhỏ hơn 50% số trường hợp loại này. Như vậy khi họ có lợi thế về (c) thì càng dễ đẩy họ đi vào tiêu cực, nếu (e) xuất hiện thì chỉ làm họ tiến vào vòng xóay đen nhanh hơn. Họ nhận tiền TIP không xấu, chẳng qua vì bệnh nhân dễ dãi trong đánh giá thôi, họ làm hại bệnh nhân khi họ lâu lành bệnh và tốn phí cho các lần tái khám: đi lại, ăn ngủ, chi phí cơ hội, lệ phí,…
    2. a +b: Khả năng họ nhận phong bì tùy thuộc góc nhìn của họ, họ có xu hướng khắt khe nên khả năng nhận thấp mặc dù họ hòan tòan xứng đáng. Với tôi, họ nên nhận, như tôi nghị chỉ khoảng dưới 60% trường hợp này nhận thôi, sẽ tăng lên nếu (e) xuất hiện. Yếu có (c) dễ làm họ trở nên … “xấu” hơn
    3. a: yếu + b: yếu: Vì sự tồn tại của họ, gia đình họ họ sẽ dễ tiêu cực. họ làm hại bệnh nhân và có xu hướng mòi tiền của bệnh nhân vì trong sự thải loại của chuyên môn họ cần (c) để tồn tại. (e) càng làm họ nhanh dấn thân thêm thôi. Sự cho – nhận là sự sống còn với họ nếu họ còn muốn khóac áo blouse
    4. Ngoại trừ các trường hợp trên, bạn có thể tưởng tượng kết quả.

    Xét thêm:
    I. Nền giáo dục với câu nói tôi được nghe chỉ mới khỏang 15-20 năm “Chó chạy cùng sào mới vào sư phạm”, bệnh thành tích trong giáo dục thì khả năng cung cấp nhân lực đủ chuyên môn là cao hay thấp?
    II. Tại sao việc đánh lộn học đường thì miền Bắc nhiều hơn miền Nam – thông tin trên Internet, tôi không kỳ thị vùng miền? Số lượng, tâm lý vùng miền,… như thế nào?
    III. Tại sao trong Nam có nhiều đơn vị không tuyển lao động trong một số địa phương miền Bắc trung bộ? Đừng nói với tôi là kỳ thị vùng miền vì nói mới chỉ xảy ra khỏang 5-7 năm nay thôi, tại sao trước không có ở mức độ này?
    IV. Giáo dục thường xuyên và chuyên tu tại chức có giúp tăng khả năng của học viên không? Ở mức độ nào? Tại sao Đà Nẵng lại có quyết định không tuyển tại chức?
    Xét thêm nữa:

    A. Đội ngũ y tế tiếp thu và lãnh đạo sau 1975: chuyên môn? Lưu dụng nhân lực “Ngụy” như thế nào? Môi trường có làm con người ta phải nâng cao chuyên môn để tồn tại và phục vụ không?
    B. Vừa bán hàng vừa chửi người mua mà người mua phải mua xảy ra trong trường hợp nào?
    C. Mức lương cho ngành y tế liệu đã thỏa đáng? Việc kê đơn sao không kê dược chất trị bệnh mà kê tên thương mại hàng hóa, là sự đánh lừa người bệnh để vừa khám bệnh vừa bán thuốc?

    Với tất cả điều trên tôi chỉ có thể nói thế này “Thẳng thắn thật thà thường thua thiệt, Lọc lừa lươn lẹo lại lên lương”. Đến Tiền TIP còn không được nhận, muốn nhận thì phải lén lút thì liệu sự chính trực sẽ đi đâu? Ai đánh giá sao thì tùy nhưng thật khó … cho trường hợp 2.

    Reply
  • Bùi Hữu Đủ

    1 GÓC NHÌN:
    BẢN CHẤT SỰ PHỔ BIẾN CỦA HIỆN TƯỢNG THAM NHŨNG
    Tác giả: NGUYỄN VŨ TUẤN ANH

    I. Bản chất sự phổ biến của hiện tượng tham nhũng trong xã hội và biện pháp phòng chống.

    Để chống lại sự phổ biến nạn tham nhũng, tôi nghĩ rằng cần phải hiểu rõ bản chất phát sinh vấn nạn này trong xã hội. Nếu không xác định được bản chất này thì mọi phương pháp chống tham nhũng đều chỉ có tính đối phó, chắp vá và trở nên vô ích.

    Trong lịch sử văn minh nhân loại, tham nhũng chưa bao giờ là nguyên nhân trực tiếp gây nên sự tồn vong của một chế độ. Tuy nhiên, đó lại là nhân tố tác động gián tiếp quan trọng, trong việc làm tan rã bất cứ một thể chế nào. Hay nói rõ hơn, sự phổ biến hiện tượng tham nhũng là chỉ là dấu hiệu báo trước cho sự tồn vong của một chế độ, nếu như không khắc phục được vấn nạn này.

    Thực tế lịch sử văn minh nhân loại là cơ sở xác định bản chất của sự phổ biến của nạn tham nhũng theo cái nhìn từ góc độ của Lý học Đông phương.

    Trước khi nói về bản chất của sự phổ biến hiện tượng tham nhũng, chúng ta xem xét vài ý kiến tiêu biểu của các nhà nghiên cứu về vấn đề này, như là điều kiện phản biện để chứng minh.

    I/ 1. Một số nhận định tiêu biểu về bản chất của sự phổ biến nạn tham nhũng trong xã hội.

    Có nhiều nhận định về bản chất của sự phổ biến hiện tượng tham nhũng. Nhưng có hai nhận định đáng chú ý sau đây:

    1.a. Nhiều người cho rằng bản chất tham nhũng xuất phát từ lòng tham của con người.

    Đây là một nhận định sai. Vì nó không phản ánh sự phổ biến hiện tượng tham nhũng, khi lòng tham của con người là một hiện tượng tự nhiên, nó cũng giống như sự tồn tại của chính con người. Do đó, mặc dù lòng tham luôn hiện hữu trong mỗi con người, nhưng thực tế lịch sử xã hội phát triển của xã hội loài người thì không phải lúc nào cũng có sự phổ biến của hiện tượng tham nhũng. Nó chỉ có tính giai đoạn trong từng chặng đường lịch sử. Thực tế lịch sử đã chứng tỏ rằng – dù với bất cứ thể chế chính danh nào – có lúc hiện tượng tham nhũng chỉ thể hiệt rất cá biệt trong xã hội, có lúc trở thành hiện tượng phổ biến. Thực tế này đã bác bỏ nguyên nhân cho rằng “lòng tham của con người” là bản chất của sự phổ biến hiện tượng tham nhũng trong xã hội.

    Thực tế lịch sử đã thẩm định đây là một kết luận sai.

    1/ b. Có ý kiến cho rằng tham nhũng là do bản chất của thể chế chính trị.

    Đây cũng là ý kiến sai theo nhận định của tôi. Thực tế trong lịch sử tiến hóa của nhân lọai cũng đã cho thấy sự phổ biến hiện tượng tham nhũng, có trong bất cứ thể chế chính trị nào trong lịch sử văn minh nhân loại. Điều này chứng tỏ rằng tham nhũng không phải là một sản phẩm riêng của một chế độ chính trị nào.

    Như vậy có thế nói rằng sự phổ biến của nạn tham nhũng trong một tổ chức xã hội, không phải lệ thuộc vào lòng tham con người và bản chất của thể chế đó.

    1/c. Có ý kiến cho rằng thiếu tính minh bạch gây nên sự phổ biến hiện tượng tham nhũng.

    Đây lại là một ý kiến sai, khi mà mọi thể chế chính trị đều có tham nhũng. Thì sự minh bạch hay không, không phản ánh bản chất sự phổ biến hiện tượng tham nhũng.

    I.2. Bản chất của sự phổ biến hiện tượng tham nhũng:

    Trước hết chúng ta cần định danh để phân biệt nội dung của hai cụm từ trong nội dung này:

    a/ Hiện tượng tham nhũng: Hiện tượng mang tính trục lợi của cá nhân, hoặc nhóm người có quyền lực, hoặc lợi dụng quyền lực.

    b/ Sự phổ biến hiện tượng tham nhũng trong xã hội: Là sự phổ biến hiện tượng tham nhũng trong hầu hết các mối quan hệ xã hội. Bài viết này chủ yếu trình bày về “Sự phổ biến hiện tượng tham nhũng trong xã hội”.

    2/1. Vấn đề đầu tiên có tính tiền đề của tôi xác định rằng:

    Tham nhũng là hiện tượng chỉ nảy sinh trong mối quan hệ giữa con người với con người trong xã hội có tổ chức với những hình thái ý thức xã hội.

    Từ tiền đề này mặc nhiên xác định rằng: sự xuất hiện phổ biến của hiện tượng tham nhũng trong một xã hội, nằm trong mối tương quan giữa những hình thái ý thức xã hội và những mối quan hệ xã hội được phát triển trên cơ sở phát triển kinh tế.

    Đây là điều mà Lý học Đông phương gọi là “Cân bằng Âm Dương” hoặc “mất cân bằng Âm Dương” – một khái niệm bí ẩn từ khi nền văn minh Lạc Việt sụp đổ ở miền nam sông Dương Tử từ thế kỷ thứ III trước CN. Khái niệm này lần đầu tiên được ghi nhận trong Sử Ký của Tư Mã Thiên, trong “Trần Bình thế gia”. Sau đó, còn xuất hiện trong Đại Việt sử ký toàn thư vào cuối kỷ nhà Trần, đoạn Bùi Cẩm Hổ đối thoại với Tể tướng Trần Khắc Chân.

    Theo sự nghiên cứu của tôi thì khái niệm Dương ứng dụng trong trường hợp này, chính là tất cả những hình thái ý thức và chuẩn mực xã hội. Khái niệm Âm bao gồm: Tất cả đời sống, kinh tế xã hội và đặc biệt là – những quan hệ xã hội này sinh trên nền tảng đời sống kinh tế xã hội.

    Lý học Đông phương quan niệm rằng “Trong Âm có Dương; trong Dương có Âm”. Bởi vậy Lý học Đông phương nhân danh nền văn hiến Việt, cũng phân loại khái niệm Âm và Dương ứng dụng trong xã hội – trong đó: hình thái ý thức xã hội thuộc Dương làm hai phần chính: Đó là:

    2/1/1. Hình thái ý thức xã hội thuộc Dương. gồm:

    2/1/1. a: Dương trong Dương.

    Là hình thái ý thức xã hội liên quan đến kiến trúc thượng tầng xã hội.

    Bao gồm: Hệ thống tư tưởng minh triết chủ đạo, hình thái ý thức trong cấu trúc thương tầng, tổ chức cấu trúc thượng tầng, Hiến Pháp..

    2/1/1.b: Âm trong Dương

    Là hình thái ý thức xã hội liên quan đến các mối quan hệ xã hội hạ tầng.

    Bao gồm tất cả các qui định, quy chế, hệ thống luật pháp, các chuẩn mực xã hội, đạo đức, nghi lễ, văn hóa truyền thống, tập tục…vv… liên quan đến mọi mặt trong các mối quan hệ xã hội.

    2/1.2. Đời sống kinh tế và quan hệ xã hội thuộc Âm, gồm:

    2/1/2.a: Dương trong Âm.

    Bao gồm tất cả các mối quan hệ xã hội, từ gia đình, bạn bè, cá nhân, tổ chức, phương thức sản xuất..vv…này sinh trên cơ sở đời sống kinh tế xã hội.

    2/1/2.b. Âm trong Âm.

    Đời sống kinh tế, phương tiện sản xuất, của cải vật chất, sản phẩm xã hội và con người thân xác…. thuộc Âm trong Âm.

    Như vậy – do sự phổ biến hiện tượng tham nhũng không phụ thuộc vào bản chất chế độ chính trị. Cho nên sự phân tích về bản chất sự phổ biến hiện tượng tham nhũng trong xã hội loại suy phần 2/1/1a – Dương trong Dương – và không phải đối tượng căn bản để quán xét.

    Cũng như phần đã nói ở trên: Bản thể tự nhiên của con người – vốn đã có lòng tham tự nhiên, khách quan – và những giá trị của đời sống, kinh tế xã hội vốn là thực thể vật chất tự nhiên. Vật chất đó là đối tượng đạt được của mục đích tham nhũng, chứ không phải bản chất của tham nhũng. Nên cũng loại suy phần 2/1/2.b Âm trong Âm trong sự phân tích này.

    Đến đây, có lẽ tôi cũng cần nhắc lại tiền đề đầu tiên quán xuyến và xuyên suốt luận điểm của chúng tôi là:

    Tham nhũng là hiện tượng chỉ nảy sinh trong mối quan hệ giữa con người với con người trong xã hội có tổ chức với những hình thái ý thức xã hội.

    Căn cứ vào tiền đề này và sự loại suy ở trên, chúng ta quán xét vào hai vấn đề còn lại là:

    2/1/1.b. Âm trong Dương: Là hình thái ý thức xã hội liên quan đến các mối quan hệ xã hội hạ tầng.

    2/1/2.a: Dương trong Âm: Bao gồm tất cả các mối quan hệ xã hội, từ gia đình, bạn bè, cá nhân, tổ chức và các mối quan hệ sản xuất…..

    Đây là hai phạm trù có mối tương quan với nhau rất chặt chẽ trong quá trình cân đối và phát triển xã hội – mà Lý học Đông phương nhân danh nền văn hiến Việt – xác định bản chất của khái niệm bí ẩn là “Cân bằng Âm Dương”. Nếu mối quan hệ này bị phá vỡ dưới bất cứ hình thức nào thì sự mất cân đối và khủng hoảng xã hội sẽ xảy ra. Mà sự phổ biến của hiện tượng tham nhũng trong xã hội chỉ là hiện tượng bề nổi phản ánh bản chất này.

    Thực tế lịch sử phát triển của xã hội loài người – từ thời cổ đại đến nay – đã chứng minh rằng – với bất cứ thể chế chính danh nào – Khi một xã hội ổn định trên một nền tảng kinh tế và các phương thức sản xuất trong xã hội, thì nó sẽ có mối quan hệ xã hội ổn định trên cơ sở đó. Tất nhiên những hình thái ý thức xã hội liên quan đến những mối quan hệ xã hội đó cũng cân bằng với chính nó. Đây là điều kiện để không có hiện tượng phổ biến nạn tham nhũng. Tức là điều mà Lý học Đông phương nhân danh nền văn hiến Việt gọi là “Cân bằng Âm Dương”.

    Nhưng chính sự ổn định này là nền tảng cho sự phát triển tiếp theo của đời sống kinh tế , văn hóa, tri thức xã hội. Và một sự tất yếu hệ quả của nó chính là những mối quan hệ mới phát triển nằm ngoài những hình thái ý thức xã hội đã tồn tại trước đó.

    Tôi xin được lấy một thí dụ :

    Trước đây luật pháp định danh quyền thừa kế tài sản giữa con đẻ, con nuôi rất rõ ràng. Trách nhiệm, nghĩa vụ đạo đưc của các con đối với cha me và ngược lại cũng rất rõ ràng. Tính chính danh của con đẻ, con nuôi và mối quan hệ với gia đình và xã hội cũng được một hệ thống luật pháp đạo đức và các hình thái ý thức xã hội khác ổn định chặt chẽ – tức “cân bằng Âm Dương”. Nhưng với sự phát triển của đời sống xã hội ngày nay (Âm trong Âm), người ta có thể nhờ người đẻ dùm. Vậy chính mối quan hệ xã hội mới này (Dương trong Âm), đã phá vỡ những hình thái ý thức xã hội đã có trước đó – kể cả tính định danh thế nào là con đẻ. Vậy thì nếu mâu thuẫn xã hội xảy ra trong mối quan hệ này – tôi thí dụ cụ thể – một cặp vợ chồng vô sinh mua trứng và tinh của một người nam và một người nữ không phải vợ chồng.Sau đó, cặp vợ chồng vô sinh này thuê một người phụ nữ khác nữa – mà không phải là người cho trứng – mang thai dùm. Trong trường hợp này, các hình thái ý thức xã hội trước đó sẽ giải quyết như thế nào về tính chính danh của con đẻ, con nuôi và tất cả các mối liên hệ liên quan về mặt pháp luật, đạo đức, trách nhiệm trong trường hợp này? Đương nhiên trong trường hợp này sẽ này sinh mâu thuẫn xã hội, mà bản chất là mối quan hệ xã hội (Dương trong Âm) đã vượt ra ngoài các hình thái ý thức xã hội trước đó (Âm trong Dương). Hay nói một cách khác: Những mối quan hệ xã hội đã vượt ra ngoài chuẩn mực xã hội trước đó.

    Trong trường hợp chỉ có vài hiện tượng nảy sinh mối quan hệ xã hội mới như tôi trình bày ở thí dụ trên và khi xảy ra mâu thuẫn xã hội trong mối quan hệ này – thì – khả năng nảy sinh “hiện tượng tham nhũng” từ những mâu thuẫn xã hội này. Nhưng nếu sự phát triển của đời sống kinh tế xã hội, làm này sinh rất nhiều mối quan hệ xã hội mới (Dương trong Âm) thì mâu thuẫn xã hội sẽ xảy ra toàn diện và xuất hiện “sự phổ biến hiện tượng tham nhũng”.

    Lúc này, khủng hoảng xã hội bắt đầu xảy ra, mà sự phổ biến hiện tượng tham nhũng chỉ là hình thức thể hiện của bản chất mất cân bằng Âm Dương này.

    Trên đây là một ví dụ về sự phát triển của các mối quan hệ xã hội, trên nền tảng của sự phát triển đời sống kinh tế xã hội, và đặt ra một nhu cầu về những hình thái ý thức xã hội tương ứng với nó.

    Thực tế xã hội Việt Nam và cả thế giới này trong thời kỳ manh nha phát triển thì hiện tượng tham nhũng rất ít. Nhìn lại lich sử cách đây 50 năm- thực tế chứng minh điều này: Mặc dù con người và xã hội thời đó nghèo hơn bây giờ rất nhiều, gần như không thể so sánh được, thì hiện tượng tham nhũng không phải là sự phổ biến. Nhưng ngược lại bây giờ xã hội rất phát triển về mặt đời sống, kinh tế, mọi người trở nên khá giả thì tham nhũng lại trở nên tràn lan và khủng hoảng xã hội đã và đang xảy ra.

    Nhìn bề ngoài thì có vẻ như có sự nghịch lý giữa cái nghèo và sự ổn định với sự giàu có và bất ổn. Nhưng về bản chất thì như tôi đã trình bày ở trên. Đó là sự thiếu cân đối giữa nhu cầu cần có của những hình thái ý thức xã hội (Âm trong Dương), luôn luôn phải luôn luôn tiếp tục phát triển để cân bằng với sự phát triển của những mối quan hệ xã hội (Dương trong Âm). Đó chính là luận điểm “Cân bằng Âm Dương” nổi tiếng trong các sách sử cổ Đông phương.

    Xét thực tế lịch sử Việt Nam bắt đầu từ những năm 60 của thế kỷ trước, bắt đầu bước vào thời kỳ ổn định và phát triển. Theo luận điểm mà tôi đã trình bày thì tất yếu sẽ nảy sinh những mối quan hệ xã hội nằm ngoài những hình thái ý thức xã hội trước đó. Hậu quả của nó là sự phổ biến hiện tượng tham nhũng bắt đầu xuất hiên. Nghị quyết đầu tiên vào đầu những đầu những năm 70 của thế kỷ trước – Nghị quyết 228 – về phòng chống tham nhũng, đã xác định điều này. Nhưng chiến tranh – mâu thuẫn lớn nhất trong quan hệ xã hội loài người – đã đẩy tất cả những mâu thuẫn xã hội khác xuống hàng thứ yếu. Tuy nhiên, sau 1975 – khi hòa bình lập lại – mâu thuẫn lớn nhất là chiến tranh đã được giải trừ – thì những mâu thuẫn trong quan hệ xã hội tiếp tục xuất hiện và vấn đề phòng chống tham nhũng lại tiếp tục được đặt ra, là sự tiếp tục của nghị quyết 228 đã có trước đó.

    Nhưng có thể nói rằng: Khi những mâu thuẫn trong những mối quan hệ xã hội mới này sinh từ một nước nông nghiệp lạc hậu trước 1954, đến một nước phát triển như hiện nay, có một giai đoạn phát triển rất nhanh và là nguyên nhân phát sinh rất nhiều mối quan hệ xã hội mới, nằm ngoài những giá trị của hình thái ý thức xã hội cũ. Đó là thời kỳ bắt đầu mở cửa 1996 đến nay. Chính sự phát triển nhanh chóng của đời sống kinh tế xã hội và phương thức sản xuất (Âm trong Âm) đã làm này sinh những mối quan hệ xã hội liên quan đến nó (Dương trong Âm). Tất nhiên, những hình thái ý thức xã hội cần thiết phải luôn bổ xung, hoàn chỉnh, có tính hệ thống, tính nhất quán, tính khách quan, tính quy luật và khả năng mở để cho sự phát triển tiếp theo (Tương ứng với khả năng tiên tri theo tiêu chí khoa học cho một lý thuyết nhân danh khoa học) , đã không theo kịp. Đó chính là hiện tượng mà Lý học Đông phương đã thể hiện một cách bí ẩn trong cổ thư: “Âm thịnh, Dương suy tắc loạn”.

    Đến đây, có thể có ý tưởng phản biện cho rằng: Vậy giải thích làm sao trong trường hợp có những mảng mà ở đấy có những mối quan hệ xã hội và hình thái ý thức xã hội ổn định, mà vẫn có hành vi tham nhũng trong đó? Điều này tôi xin được giải thích rằng: Một khi đã xảy ra sự mất cân đối do sự phát triển không đồng bộ giữa đời sống kinh tế xã hội (Âm trong Âm) – và không bao giờ có thể đồng bộ được, vì đây là tính khách quan tự nhiên của sự phát triển đời sống kinh tế xã hội. Sự phát triển càng nhanh thì sự mất cân đối càng lớn ( Đó là nguyên nhân của khoảng cách giàu nghèo ở một số lĩnh vực phát triển so với một số lĩnh vực cơ bản có tính nền tàng khác ít phát triển – như nông nghiệp). Và khi sự mất cân đối xảy ra sẽ gây hiệu ứng dây chuyền đến các mảng xã hội khác, để khiến cho hiện tượng tham nhũng phổ biến trong cả những mảng mà ở đấy có mối quan hệ xã hội và hình thái ý thức ổn định. Thâm chí hiện nay, một người quét rác cũng có thể dùng quyền gom rác của họ để tham nhũng.

    Như trên đã nói: Nếu tính từ năm 1954 thì xã hội Việt Nam đã tiến những bước rất dài. Đặc biệt từ ngày đổi mở cửa hội nhập với thể giới đến nay cũng hơn 20 năm. Những mối quan hệ xã hội ở hạ tầng cơ sở (Dương trong Âm) đã phát triển hết sức chồng chéo và phức tạp. Những hình thái ý thức xã hội – đặc biệt là luật pháp – tuy có nhiều cố gắng hoàn chỉnh, nhưng không theo kịp Trên cơ sở hệ thống luận điểm này thì vấn đề trình bày tiếp theo đây sẽ là những biện pháp để giải quyết vấn đề trên.

    1. 3. Biện pháp chống tham nhũng triệt để nhất :

    Tôi giả thiết rằng những hiện tượng tham nhũng đều bị bắt sau khi phạm tội. Cho dù nó được áp dụng bởi những biện pháp điều tra của cơ quan an ninh tinh vi nhất, với những biện pháp tố cáo chuẩn mực nhất của người dân – thì – theo tôi đấy không phải là biện pháp rốt ráo. Bởi vì nó chỉ là biện pháp xử lý sau khi hậu quả đã xảy ra.

    Nhưng ngay cả trong trường hợp lý tưởng này, cũng chỉ thể hiện tính công bằng của xã hội và tính chính danh của thể chế cầm quyền, chứ nó không thể hiện sự xác định cho niềm tin rằng sự việc này sẽ không lặp lại trong điều kiện của nó. Bởi vì, sẽ không có cái gì để bảo đảm người thay thế vào vị trí của vị quan tham bị trừng phạt kia, sẽ không lặp lại hành vi trên của người tiền nhiệm. Hay nói cách khác: những mối quan hệ xã hội mới nằm ngòai những hình thái ý thức xã hội cũ, mà không có sự phát triển tiếp theo có tính kế thừa những hình thái ý thức xã hội trước đó, phù hợp một cách hợp lý với quan hệ xã hội mới – thì – đây chính là sự khủng hoảng niềm tin và nguyên nhân để tan rã những thể chế, khi những mối quan hệ xã hội vượt ra khỏi hình thái ý thức xã hội cũ. Cho dù nó được coi là có sự phát triển về mặt kinh tế

    Trên cơ sở những luận điểm trên – nếu được coi là đúng về bản chất của sự phổ biến hiện tượng tham nhũng – thì cần phải có một dự án để định danh toàn bộ những mối quan hệ đã nảy sinh trong quá trình phát triển của xã hội. Tiếp theo là phải hoàn chỉnh luật pháp một cách chi tiết, rõ ràng, có tính hệ thống, tính nhất quán và công bằng trong mọi trường hợp liên quan đến nó. Và để đồng bộ, nhất quán, còn cần phải có một hệ thống hình thái đạo đức và nghi lễ trong các mối quan hệ xã hội mới nảy sinh, nhất quán với hệ thống luật pháp đã hình thành trong mối quan hệ đó và với hình thái ý thức xã hội ở thượng tầng kiến trúc (Dương trong Dương).

    Lý học Đông phương phục hồi từ nền văn hiến Việt coi ba hình thái ý thức xã hội, gồm: Đạo đức, Pháp luật, Lễ nghi là tam Dương. Và bức tranh Đông Hồ nổi tiếng: “Tam Dương khai thái” chính là mô tả tính “cân bằng Âm Dương” trong việc ổn định và phát triển xã hội.

    Đây sẽ là một dự án rất qui mô, đồ sộ và phức tạp. Bởi vì nó phải bao trùm một cách nhất quán và hợp lý (Công bằng xã hội) một cách toàn diện, lên gần như toàn bộ những mối quan hệ xã hội đang tồn tại hiện nay và trong cả quá trình lịch sử phát triển từ hơn nửa thế kỷ của Việt Nam. Do đó, để thực hiện được điều này, cần có sự tập hợp kiến thức tổng hợp của nhiều ngành liên quan. Nhưng hoàn toàn có thể thực hiện được một cách nhanh chóng, chính xác và thỏa mãn tất cả những yêu cầu được đặt ra cho những hình thái ý thức xã hội, phù hợp với sự phát triển của nó, trong điều kiện các phương tiện khoa học hiện đại ngày nay.

    Reply
  • Hoàng cương

    Kinh dịch là công trình khoa học vĩ đại của loài người , nguồn gốc đang gây tranh cãi giữa Người Việt và Người Hán -Nếu lấy thuyết âm dương ngũ hành giải thích cho tệ tham nhũng ,phong bì thì quá thiển cận – Trước hết ta xét trên phương diện kinh tế văn hóa của nền văn minh nông nghiệp của i á đông ,từ bi khổ hạnh,thanh bạch >< người trần mắt thịt , tôn sư trọng đạo và trên cùng là .. Thiên tử ( vua) – Qua đây câu hỏi đặt ra .Ai được ăn tên ngồi chốc , ai được cung phụng … có phải nền văn hóa á đông mặc định cho văn hóa tham nhũng không ? Vậy để khắc chế bớt tham nhũng thì thúc đẩy xã hội dân chủ ,minh bạch ( Mô hình phương tây ) đúng không ? Vậy duy chì một chế độ độc tài có khác gì chế độ phong kiến nền văn hóa nô dịch song hành với thể chế đó thì âm,dương rối loạn tức lòng người oán than !

    Reply
  • Tran

    Câu chuyện y đức:

    Khi lợi ích nhóm bị vạch mặt
    http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130321/loi-ich-nhom-trong-benh-vien-cong.aspx

    Reply

Để lại một nhận xét

© 2014 GÓC NHÌN ALAN

Scroll to top