Góc nhìn của Soros: vàng, ngoại tệ và Trung Quốc. Reviewed by Momizat on . George Soros giảm đặt cược vào vàng Vàng mất dần sức hấp dẫn với nhà đầu tư khi nhu cầu trú ẩn an toàn vào tài sản này giảm trước đà phục hồi của kinh tế Mỹ. Ha George Soros giảm đặt cược vào vàng Vàng mất dần sức hấp dẫn với nhà đầu tư khi nhu cầu trú ẩn an toàn vào tài sản này giảm trước đà phục hồi của kinh tế Mỹ. Ha Rating:
>>Trang chủ » Sân Chơi Của Khách » Góc nhìn của Soros: vàng, ngoại tệ và Trung Quốc.

Góc nhìn của Soros: vàng, ngoại tệ và Trung Quốc.

George Soros giảm đặt cược vào vàng

Vàng mất dần sức hấp dẫn với nhà đầu tư khi nhu cầu trú ẩn an toàn vào tài sản này giảm trước đà phục hồi của kinh tế Mỹ.

Hai tỷ phú đầu tư George Soros và Louis Moore Bacon giảm lượng nắm giữ vàng trong các quỹ tín thác (ETF) trong quý IV/2012 sau khi giá vàng giảm mạnh nhất hơn 8 năm.

Tính đến ngày 31/12/2012, công ty quản lý quỹ Soros giảm 55% đầu tư vào quỹ tín thác vàng SPDR so với 3 tháng trước đó. Trong khi đó, công ty quản lý quỹ Moore của Bacon bán toàn bộ cổ phần trong SPDR và giảm lượng nắm giữ vàng trong quỹ tín thác Sprott. Trong khi đó quỹ Paulson & Co., nhà đầu tư lớn nhất vào SPDR, vẫn giữ nguyên lượng vàng nắm giữ.

Trong quý IV/2012, giá vàng giảm 5,5%, giảm mạnh nhất kể từ quý II/2004. Lượng vàng trong các quỹ ETF cũng giảm 0,9% sau khi đạt kỷ lục hôm 20/12/2012.

Các quỹ phòng hộ giảm 56% đặt cược giá vàng sẽ tăng sau khi tỷ lệ đặt cược này lên cao nhất 13 tháng vào tháng 10/2012. Điều này do các nền kinh tế lớn từ Mỹ đến Trung Quốc đều có xu hướng phục hồi.

Giám đốc điều hành tại công ty quản lý quỹ Foxhall cho rằng, khi kinh tế có chiều hướng tốt lên, nhà đầu tư sẽ chuyển sang các tài sản đầu tư như chứng khoán.

Kỷ nguyên tăng giá của vàng có thể kết thúc

Nhu cầu vàng thế giới giảm lần đầu tiên kể từ năm 2009 bởi các khách hàng châu Á giảm mua trang sức trong khi khách hàng phương Tây giảm đầu tư.

Đó là nội dung trong báo cáo được Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) chính thức công bố ngày 14/2. Nhiều ý kiến cho rằng, báo cáo này đồng nghĩa với khả năng đà tăng giá 12 năm liên tiếp của vàng có thể sẽ chấm dứt trong năm nay.

Theo WGC, tiêu thụ vàng dự đoán sẽ ổn định trong năm 2013 và khó có thể bứt phá mạnh. Năm ngoái, tiêu thụ vàng toàn cầu đã giảm 4% so với năm liền trước, đạt 4.405 tấn.

Trong đó, nhu cầu vàng trang sức giảm 3% xuống 1.908,1 tấn, với mức giảm mạnh nhất tại Ấn Độ – khách hàng tiêu thụ vàng lớn nhất – bởi đồng rupee yếu và giá vàng nội địa cao kỷ lục. Tại Trung Quốc, khách mua vàng nhiều thứ hai, cũng chứng kiến nhu cầu vàng trang sức giảm 1% trong năm ngoái xuống còn 510,6 tấn, lần giảm đầu tiên kể từ năm 2002.

Về nhu cầu vàng nói chung thì Trung Quốc năm 2012 hầu như không thay đổi nhưng ở Ấn Độ lại giảm 12%.

WGC dự báo năm 2013 nhu cầu vàng của Ấn Độ khoảng 865 – 965 tấn trong khi của Trung Quốc là 780 – 880 tấn.

Về sức mua của các ngân hàng trung ương, theo WGC, các ngân hàng trung ương đã mua tổng cộng 534,6 tấn vàng trong năm 2012 – cao nhất trong vòng 48 năm trở lại đây. WGC dự báo năm 2013, các ngân hàng tiếp tục mua bằng mức đã mua trong năm trước bởi các chính sách nới lỏng tài khóa ở các quốc gia phát triển làm giảm niềm tin vào giá trị của tiền tệ.

Nhu cầu vàng thỏi và đồng xu đầu tư tại châu Âu và Mỹ năm ngoái sụt giảm, trong đó ở Mỹ giảm tới hơn 30% còn châu Âu giảm 29%. Tổng nhu cầu đầu tư vàng thế giới qua vàng thỏi và đồng xu năm 2012 giảm 10% xuống 1.534,6 tấn.

Nhu cầu đầu tư vàng thông qua các quỹ đầu tư tín thác (ETF) trong khi đó tăng gấp rưỡi lên 279 tấn.

WGC cho rằng trong năm nay giá vàng sẽ dao động trong khoảng từ 1.625 – 1.695 USD/ounce và sẽ biến động trong biên độ hẹp. Từ đầu năm tới nay, giá vàng đã giảm 1,4% sau khi trải qua quý 4/2012 với quý giảm mạnh nhất kể từ năm 2008.

Theo CafeF

George Soros lại thắng lớn từ đồng yên suy yếu

Description: George Soros lại thắng lớn từ đồng yên suy yếu

(CafeF) Kẻ đầu cơ tiền vĩ đại nhất thế kỷ 20 lại khiến người ta phải thán phục khi kiếm được 1 tỷ USD từ xu hướng lao dốc không phanh của đồng yên.

Hãng tin Bloomberg vừa trích dẫn nguồn tin thân cận với nhà đầu tư lừng danh George Soros cho rằng tỷ phú này đã kiếm được 1 tỷ USD kể từ tháng 11/2012 đến nay nhờ dự đoán đồng yên Nhật sẽ lao dốc.

Bắt đầu từ quý IV, đồng nội tệ của nền kinh tế lớn thứ 3 thế giới đã sụt giảm tới 17% so với đồng USD, đánh dấu thời kỳ suy giảm tồi tệ nhất kể từ năm 1985.

Đồng yên giảm điểm và TTCK Nhật Bản tăng điểm do Thủ tướng Shinzo Abe gây áp lực buộc NHTW Nhật Bản (BoJ) phải tăng cường các biện pháp kích thích kinh tế. Thêm vào đó, Thống đốc BoJ là  ông Masaaki Shirakawa cùng với 2 phó Thống đốc cũng vừa tuyên bố sẽ từ chức vào tháng tới, mở rộng cánh cửa cho phép ông Abe triển khai kế hoạch nới lỏng chính sách tiền tệ hơn nữa.

Cũng theo nguồn tin này, Scott Bessent – giám đốc tài chính của Soros Fund Management LLC – cũng đặt cược 10% danh mục đầu tư của quỹ vào xu hướng TTCK Nhật Bản sẽ tăng điểm.

Bessent làm việc với Soros kể từ năm 1992, khi Soros cùng với chiến lược gia của ông là Stan Druckenmiller kiếm được 10 tỷ USD nhờ dự đoán rằng NHTW Anh sẽ buộc phải phá giá đồng bảng Anh. Tại thời điểm đó, quỹ Quantum của Soros trị giá 3,3 tỷ USD.

Nổi danh sau khi kiếm được khoảng 1,1 tỷ USD trong phi vụ đầu cơ đồng bảng Anh năm 1992 và được mệnh danh là “kẻ phá hoại NHTW Anh”, George Soros được coi là nhà đầu tư tài chính vĩ đại nhất lịch sử, kẻ đầu cơ tiền vĩ đại nhất thế kỷ 20.

Đến mùa hè năm 1997, trong cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, Soros tiếp tục bị cáo buộc đã gây áp lực lên các đồng tiền để thu về hàng tỷ USD.

Kiếm được hàng tỷ USD từ những cuộc khủng hoảng tiền tệ của nhiều nước và thường gặt hái được thành công vang dội trong khi phần lớn các nhà đầu tư và cả các chính phủ lâm vào thế thất bại thảm hại, không ít người cho rằng Soros là 1 kẻ tội đồ thao túng toàn bộ thị trường tiền tệ thế giới nhằm trục lợi cho bản thân. Tuy nhiên, không thể phủ nhận thành công của ông được tạo nên từ chính kinh nghiệm dày dặn và 1 bộ óc nhanh nhạy sắc bén.

Thu Hương

Theo Bloomberg

============

“Nhà trí thức” mang tên George Soros

Description: “Nhà trí thức” mang tên George Soros

Cái ông giỏi nhất là hiểu được mình phải làm gì trong cái thế giới mà ông cho rằng không thể nào hiểu nổi.

George Soros coi Isaiah Berlin là người ảnh hưởng sâu sắc nhất đến tư duy của ông, vì thế hãy nhìn người đàn ông này qua lăng kính của một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của triết gia Berlin: “Con nhím và Con cáo”(Ngạn ngữ phương Tây có câu: “Con cáo biết nhiều thứ, Con nhím chỉ biết một thứ quan trọng nhất”-ND).

Với công chúng, Soros là một con cáo thiên tài. Nhà quản lý quỹ đầu cơ George Soros thành công là nhờ khả năng chơi vô số canh bạc chỉ trong một ngày. Lúc làm từ thiện, chất “cáo” của Soros ẩn trong chiếc ô “Xã hội mở” và số tiền rải ra để “làm cách mạng” ở hàng chục quốc gia.

Nhưng về mặt tri thức, Soros lại là một con nhím “chỉ biết một thứ quan trọng nhất”. Hơn nửa thế kỷ nay, ông đã chiêm nghiệm, gọt dũa và truyền bá nhiều phiên bản của tư tưởng lớn này. Phiên bản mới nhất của ông là “tầm quan trọng của tri thức không hoàn hảo như là một động cơ hoặc một yếu tố quyết định lịch sử.”

Tư tưởng lớn

Trong nhiều năm qua, dù cho sức mạnh tài chính và công việc từ thiện của ông có được công chúng ngưỡng mộ, cứ mỗi lần ông diễn đạt thành văn cái “tư tưởng lớn” của mình là lại vấp phải chỉ trích. Nhưng với chính Soros, “tư tưởng lớn” này liên hệ chặt chẽ với hào quang của ông trước công chúng. Ông tin rằng chính nền tảng tri thức đã giúp ông thành công trên mọi lĩnh vực.

Và mừng cho ông, sau chừng ấy thời gian phấn đấu để được công chúng coi là một “trí thức”, sóng gió hiện nay với kinh tế thế giới cuối cùng cũng khiến chúng ta phải tiếp thu tư tưởng của Soros.

“Tình thế hiện nay là cơ hội để người ta hiểu” tri thức không hoàn hảo sẽ gây ra hậu quả xấu như thế nào. “Chúng ta đã có 25 năm thịnh vượng thi thoảng có bị ngắt quảng bởi khủng hoảng tài chính. Cứ mỗi lần như thế, chính phủ lại can thiệp bằng cách đẩy mạnh tín dụng và cho vay, cho đến khi mọi thứ trở nên không bền vững. Thế là vụ đổ vỡ năm 2008 xảy đến, hệ thống tài chính thực sự đã sụp đổ và phải “thở bằng máy”

Soros coi chu kỳ bùng nổ-suy thoái ấy là ví dụ thực tế cho lý thuyết của mình: “Tất cả là vì một niềm tin mù quáng rằng thị trường tài chính có xu hướng quay về mức cân bằng.”

Đương nhiên, “tư tưởng lớn” của Soros cũng có chút mâu thuẫn: Bản thân ông cũng tin tưởng tuyệt đối và đầy nhiệt thành rằng hiểu biết của chúng ta về thế giới là không đầy đủ. Ông chắc chắn vào việc không thể chắc chắn về điều gì!

Ngoài đời thực, Soros điều chỉnh tư tưởng của mình bằng cách không ngại ngần áp dụng lý thuyết “tri thức không hào hảo” cho chính bản thân mình. Các bạn làm ăn nói thiên tài đầu tư của ông không phải là năng lực tiên tri lúc nào cũng đúng. Đó là khả năng biết khi nào mình sai rồi cắt lỗ, và biết khi nào mình đúng rồi xuống tiền gấp đôi.

Soros đặc biệt ưa thích tìm ra lỗi sai của chính mình. “Năm 1997, tôi nghĩ chủ nghĩa tư bản toàn cầu là không bền vững,” ông nhớ lại. “Nhưng nó vẫn chạy tốt thêm được 11 năm!”

Soros cho rằng mình quen với những biến động chính là nhờ “tuổi thơ dữ dội” khi Phát xít Đức xâm lược Hungary năm ông 13 tuổi. Gia đình Soros sống sót và cậu bé George học được cách đối phó với những thay đổi mang tính cách mạng. “Tôi được cha dạy cho đấy, ông cũng từng là tù binh chiến tranh ở Nga thời Thế chiến thứ nhất. Gia đình tôi có cả một lịch sử nhiễu loạn. Điều đó cho tôi lợi thế khi giải quyết những tình huống chẳng liên quan gì tới cái sự “cân bằng” mà họ vẫn tụng niệm.”

Nền tảng của thành công

Hàng thập kỷ nay Soros vẫn bảo vệ tư tưởng của mình trước công chúng. Nhưng “tư tưởng của tôi bị mọi người quay lưng, họ coi đó chỉ là những lời khoa trương của một kẻ đầu cơ tốt số.” Khi khủng hoảng tài chính bùng nổ, người ta trân trọng Soros hơn với tư cách một nhà tư tưởng.

Đương nhiên, Soros không tự giam mình trong thế giới trừu tượng triết học. Có lẽ ông đã nổi tiếng là người có quan điểm chính trị tự do, và ông thích nhất là dấn thân vào các cuộc tranh luận về chính sách công trên toàn thế giới, đặc biệt là khi ông cho rằng ý niệm về tri thức không hoàn hảo của mình có thể áp dụng được hoặc các giá trị của một xã hội mở đang lâm nguy.

Gần đây ông bị chủ đề liên minh Châu Âu cuốn hút và người ta vẫn hay trích dẫn câu nói của ông, nước Đức “hoặc nên lãnh đạo [Châu Âu], hoặc cuốn gói [khỏi liên minh Châu Âu]”. Đó là cách ông tóm tắt ý kiến của mình rằng hoặc Đức phải gánh lấy trách niệm lãnh đạo EU bằng cách hỗ trợ tài chính cho các nước yếu hơn và duy trì mức lạm phát cần thiết cho nền kinh tế, hoặc nước này “cuốn gói” khỏi eurozone và để các nước còn lại thực hiện những điều trên. Cho đến nay, nước Đức vẫn chưa có động tĩnh gì, nhưng tư tưởng của Soros đã thu hút được sự chú ý của cả công chúng lẫn giới tinh hoa Châu Âu.

Ngay sau đó, giới truyền thông lại săn đón Soros sau những nhận xét của ông về Trung Quốc. Cả người Trung Quốc lẫn cộng đồng đầu tư toàn cầu đều đồng ý rằng thách thức lớn nhất cả về kinh tế lẫn chính trị của đất nước này là chuyển từ nền kinh tế dựa vào xuất khẩu sang dựa vào tiêu dùng nội địa. Nhưng Soros cho rằng bước chuyển này sẽ gian nan hơn so với dự kiến.

“Trung Quốc đã hưởng lợi quá nhiều từ toàn cầu hóa và họ đã phát huy hết khả năng của mô hình tăng trưởng dựa trên xuất khẩu và đầu tư,” ông nói.

“Tiêu dùng mới chiếm có 1/3 GDP và đang tiệm cận tới giới hạn của sự bền vững”, ông nói. “Vì thế họ phải thay đổi. Sẽ là hạ cánh cứng đấy. Để tăng tiêu dùng, phải tăng thu nhập hộ gia đình. Nhưng kinh tế tăng trưởng chậm lại nên thấp nghiệp tăng và mọi người đều lo ngại, thế là họ còn tiết kiệm nhiều hơn. Vì thế cả ba khu vực đều yếu đi: xuất khẩu, đầu tư và tiêu dùng.”

Một trong những năng lực nổi trội nhất của Soros là nhanh chóng nhận ra ai sẽ hưởng lợi từ kịch bản này. Đó là lối tư duy rất đắc dụng với ông chủ một quỹ đầu cơ.

Soros phân tích tình hình tại Trung Quốc như sau: “Mánh duy trì tăng trưởng kinh tế ổn định tuyệt vời nhất là định giá thấp đồng tiền, làm thế là tương đương với áp thuế lên người lao động Trung Quốc. Nhưng người ta không cảm thấy mình đang bị đánh thuế. Vì kinh tế tăng trưởng quá nhanh, nên dù người lao động có không được hưởng mấy thành quả, họ vẫn cứ hài lòng.”

Khi ấy, kẻ thắng cuộc là tầng lớp trên vì họ giàu lên rất nhanh khi kinh tế cất cánh. Tuy vậy, nếu kinh tế giảm tốc là động lực này mất ngay, “người ta sẽ không còn chấp nhận cái thực tế đó nữa.” Soros cho rằng kết quả tất yếu sẽ là xung đột và khủng hoảng.

Với Soros, công trình mà ông trân trọng nhất trong đời mình không phải là gia sản mà ông đã tích góp, cũng không phải sự ủng hộ nhiệt thành đối với xã hội mở, mà chính là đã nảy ra “tư tưởng ớn” kể trên.

“Cố gắng hiểu được phải làm gì khi sinh ra trong một thế giới là ta không tài nào đoán định được,“ ông nói, “là thứ khiến tôi thích thú mà cũng bận tâm nhất.”

Minh Tuấn

Theo TTVN/Foreign Policy

Bình luận (31)

  • Sweet Surprise

    Years ago I only knew of George Soros as a quite well-known author with his books on globalization and free trade. Now I’ve known him as a man of great intellect, a big thinker, and especially the most excellent investor. Thanks Uncle Alan very, very much for this.

    Some more about George Soros is that because of his origin in Hungary he’s also a Hungarian-American business magnate. As well he’s a big philanthropist where he gave USD8 billion for human rights, public health, and education purposes between 1979 and 2011 (Wikipedia). Of this importance, perhaps he may be left only behind Bill Gates.

    But the most interesting thing about George Soros to me is that he’s a Jewish man. So it might be without surprising why he’s so well at doing such things. Not all aspects but everyone might know that Jewish people are particularly often the smartest in science and business among many other fields.

    Dear Uncle Alan, as I’ve become a person with an absolute holy belief, could you please let me give all the others here the following writing I’ve found from The Jewish Magazine in April 2012? It may be considered as one among those which try to explain why Jewish people are as such gifted and may be very interesting to many indeed. (If having time some BCA may find “Great Works of Jewish Fantasy” some similar explication).

    Why Are Jews So Smart?
    By Lewis Regenstein

    The question has intrigued and baffled researchers for centuries. We all know people who defy the stereotype, yet it persists, demanding our attention. It leaves us wondering whether there is validity to the widespread belief that Jews are so much smarter than other people.

    But there can be little doubt that Jews have for centuries been substantially over-represented in many fields of learning and accomplishment. One must wonder, how could such a tiny, numerically insignificant group produce so many of the world’s smartest, most accomplished, and most influential people?

    Jews comprise an amazing number of history’s most important figures, people who have had a profound impact on humanity: the Patriarch Abraham, whose life and teachings are considered sacred by Jews, Christians, and Moslems; Moses, the lawgiver to Jews and Christians; Jesus and his disciple, Paul, who founded and spread Christianity.

    Looking back into the 20th century alone, one can clearly see that Jews have played many a key role in shaping the modern world (if not always in a positive way): physicist Albert Einstein; the father of psychoanalysis, Sigmund Freud; Communism’s Karl Marx; developers of the polio vaccine Dr’s Jonas Salk and Albert Sabin; and the leading developers of the first atomic bomb, as inspired by Einstein’s theories – among them, Felix Bloch, Niels Bohr, Otto Frisch, Robert Oppenheimer, Leo Szilard, and Edward Teller. Indeed, Jews were so dominant in the field of nuclear physics in Europe throughout the 1930’s that it was often referred to as “Jewish physics.”

    There is even some evidence of Elvis’ having Jewish ancestry!

    Jews may not be history’s most popular people, but no other group has even come close to matching, proportionally, Jewish abilities and accomplishments. Combined with other commonly perceived Jewish traits such as ambition, curiosity, energy, imagination, and persistence, Jewish intelligence has elevated an incredible number of Jews to the top ranks of various fields.

    Consider the following:

    ~ The proportion of Jews with IQ’s of 140 or more is estimated to be about six times the proportion of any other ethnic group.

    ~ Although Jews constitute only about two-tenths of one percent of the world’s population, Jews won 29 percent of the Nobel Prizes in literature, medicine, physics and chemistry in the second half of the 20th century. So far this century, the figure is 32 percent. And these Jews of whom we speak were almost exclusively male Jews primarily of western European ancestry (less than one-tenth of one percent of the world’s population), in spite of pervasive discrimination, numerous legal barriers, frequent persecution, and the Holocaust.

    ~ From 1870 until 1950, Jewish leadership in such fields as literature, music, visual arts, biology, chemistry, physics, mathematics, and philosophy equaled somewhere from four to fourteen times the Jewish proportion of the population in Europe and North America.

    ~ In 1954, 28 children in the New York City public school system were found to have IQ’s of 170 or higher – 24 of these were Jewish.

    And, of course, the extraordinarily high proportion of Jews in such fields as medicine, law, finance, literature, science, creative arts and the media is as obvious as it is astonishing. To some, these facts are awkward and even embarrassing, feeding stereotypes of “crafty” and “clever” Jews good at making money and flaunting their superiority to non-Jews. Indeed, the subject – the fact, if you will now allow — of Jewish intellectual superiority is rarely if ever discussed in Jewish publications.

    To explain this, we have a self-described “Scots-Irish gentile from Iowa,” Charles Murray of the American Enterprise Institute, author of the solidly documented “The Bell Curve”, which in 1994 stirred up a storm of controversy by discussing in not always politically correct language “differences in intellectual capacity among people and groups, and what those differences mean for America’s future.”

    Murray has recently written a brilliant and convincing essay for the respected Jewish publication “Commentary,” on “Jewish Genius,” citing many of the above facts and material on which this article is based. This is the first time the magazine has systematically discussed this normally taboo topic that so many Jews are reluctant publicly to acknowledge.

    Murray observes that the two most influential works of literature ever were written by and about Jews: the Hebrew and the Christian bibles, the so-called Old and New Testaments, and he goes on to cite numerous other examples of what can only be called Jewish intellectual supremacy.

    Murray argues persuasively that “elevated Jewish intelligence is grounded in genetics” rather than being environmentally caused (by such factors as having books in the home), and that it is “substantially heritable.” And Jews, especially the Ashkenazim of central and western Europe, have been engaging for centuries in what basically amounts to selective mating and merging genes to produce children of high intelligence.

    The Talmud (Pesahim 49a) says that “A man should sell all he possesses in order to marry the daughter of a scholar, as well as marry his daughter to a scholar.” In the Jewish community of the Middle Ages, the smartest men often became rabbis, and these learned men of high status were able to marry the daughters of successful merchants, thus “selecting” in favor of high intelligence.

    At the same time, Christians were doing just the opposite: priests and monks of the dominant Roman Catholic Church – also usually among the best and brightest in their communities– were prohibited from marrying, thus “selecting out” through celibacy most of these intellectually superior men from the gene pool.

    Murray also observes that “Sephardi Jews rose to distinction in many of the countries where they settled. Some economic historians have traced the decline of Spain after 1500 [following the expulsion of the Jews], and the subsequent rise of the Netherlands, in part to the Sephardi commercial talent that was transferred from one to the other.”

    Murray’s scholarly and extensively documented article cites many other reasons for Jewish intellectual superiority in verbal and reasoning skills, including two crucial factors, which are often overlooked.

    The most important of these can be found in an article entitled, “Jewish Occupational Selection,” and written by two scholars, Maristella Botticini and Zvi Eckstein. They focus on a decree issued in 64 C.E. by the martyred sage Joshua ben Gamla, high priest in the last years of the Second Temple, requiring that all males be enrolled in school by age six. The ordinance was largely adhered to, and, in the words of Murray, “Within about a century, the Jews, uniquely among the peoples of the world, had effectively established universal male literacy and numeracy.”

    Moreover, throughout the centuries, Jewish males have had to study and learn the law, a process one never completes, and to read — often aloud in public — in order to practice their faith and teach their children. Murray speculates that many Jews of low intelligence, who could not read well or fulfill the intellectual demands of their religion, tended to drift away from it.

    Murray also cites a thesis of the geneticist Cyril Darlington, arguing that Jews were “decisively shaped much earlier,” during the period of the fall of Jerusalem and captivity under Babylonian King Nebuchadnezzar in 586 B.C.E. According to the Bible (2 Kings 24:10-14), only the elite among the Israelites were taken to Babylon, leaving behind the unskilled and presumably less intelligent. The king “carried away all Jerusalem, and all the princes, and all the mighty men of valour… and all the craftsmen and the smiths; none remained, save the poorest sort of the people of the land.”

    By the time the Israelites returned more than a century later, many of those who had remained had been killed off or had married foreigners and been absorbed by other peoples. The returned exiles reconstituted a Jewish community comprised largely of descendants of its most intelligent members. Ever since, practicing Jews have continued to try to perpetuate their “ethnic purity,” usually marrying within their own group, and resisting intermarriage with and assimilation by their neighbors.

    But, still not satisfied by the evidence he so impressively presents, Murray continues to wonder about the intellectual prowess demonstrated from the very beginning by the Jewish people. “Why should one particular tribe at the time of Moses, living in the same environment as other nomadic and agricultural peoples of the Middle East, have already evolved elevated intelligence when others did not?”

    The answer, speculates Murray, may be his “happily irrefutable’ hypothesis, drawn from the Jews’ earliest and most famous literary work: “The Jews are God’s chosen people.”

    Reply
    • Alan Phan

      If you translate this article into Vietnamese, it might be interesting to BCA of this web site

      Reply
      • Hoangceo

        Đồng ý với ông già Alan . sao ko dịch ra tiếng Việt , T….

        Reply
      • Sweet Surprise

        Dear Uncle Alan,
        My ability to translate is in fact awfully terrible. But with all of my reverence to you, please let me some time that I should be trying with it as sooner as better.

        Reply
        • Long

          Dear Uncle& Sweet Surprise,

          Tôi định dịch bài này, nhưng kỳ thực nó không có nhiều điều đặc sắc. Bài nói ca ngợi giống người Jews, vì tỷ lệ thành đạt và xuất chúng đáng ngạc nhiên.

          Xin quay về với người Việt, cùng tạo niềm vui để làm việc, vượt hơn những giá trị bình thường. Hẹn nhau cùng kiểm nghiệm sau 1 năm, 05 năm và 50 năm nữa.

          Reply
          • Sweet Surprise

            Thanks, Long, but I’ve already translated the article. So, I hope you might please to share it (particularly if you knew how long it had occupied my mind within a day long even until the night-time).

            By the way, I would like to say some which are quite different from yours. I contrarily found the writing very useful and helpful. For always I want to know more why the Jewish is so talented in far many fields like that. And I had had no source of short, clear, and simple information as such until reading this guest’s writing and therefore went Google the article.

            It almost made all apparent to me, but most impressively the religious aspect. Please remember that the article is, as referred to within, essentially based on the work of the other as an outsider, not the author as a Jewish son. What is more is that I don’t know whether you might take note that really there are so many things that our human beings are unable to get a scientific explication so having to have an holy belief instead. Of this I wish very much if only I could tell you, and Uncle Alan, of course, what I had ever been witnessed or seen in my life relating to it. And also remember that Albert Einstein is one among those genius believing in God, please.

          • Long

            Dear Sweet Surprise,

            Just because the first time I discovered it, I admired them. The second and then when I found it, I only think about my people.

            I respect your time and article here. When I was in NY, I have many times go through B* H photo shop where has a group of Jews. I also appreciate their greatest in mind. Similarly few years ago, I am also curious about what makes them outstanding among ours. Something talks about foods resource, other reminds about politics condition etc..

            I think I am old enough to not surprising about Jewish again.

            Anyway, I love the way you posted here!

            Good luck, Sweet Surprise!

          • Sweet Surprise

            Dear Long,

            Thanks a lot for the evenness in your perceiving people’s opinions. I think I’ve learned very much from Uncle Alan, and all the others like you that always I wish to have such humanity in any of my ideas or opinions.

            Thanks again and wish you all the best, too.

      • Sweet Surprise

        Dear Bác Alan,
        Dear các BCA,

        Do George Soros là người Do Thái – mặc dù rất mong các BCA nếu có thời gian nên đọc nguyên gốc toàn bộ bài báo mình đã xin phép được “copy” và “paste” ở phần viết bằng tiếng Anh bên trên – nhưng nếu có quá ít thời gian các bạn vẫn có thể tham khảo bản dịch sau đây của bài báo đó, đăng trên Tạp chí Do Thái online số ra gần đây (4/2012), như một nguồn tài liệu đáng tin cậy trong nỗ lực của nhiều nhà khoa học hàng thế kỷ nay mong muốn “giải mã” hiện tượng tại sao đã, đang, và sẽ tiếp tục có nhiều người Do Thái xuất chúng đến như vậy trong nhiều lĩnh vực của đời sống nhân loại. Do khả năng dịch của mình phải nói thực là “awfully terrible”, như mình đã thú nhận với Bác Alan ở trên, nên nếu có gì sai sót mong Bác Alan và các bạn bỏ quá cho.

        Cuối cùng, thanks Bác Alan, thanks các bạn đã cho mình cơ hội để được tìm hiểu sâu hơn về vấn đề mình rất quan tâm này.

        Tại Sao Người Do Thái Lại Giỏi Đến Như Vậy?
        (Tác giả: Lewis Regenstein)

        Câu hỏi này được khơi gợi từ trí tò mò và đã đánh bại nhiều nhà nghiên cứu từ nhiều thế kỷ nay. Tất cả chúng ta đều biết những người không chấp nhận sự khuôn sáo, đúng như sự khuôn sáo ấy đã có, để đòi hỏi sự chú ý của chúng ta. Câu hỏi đó làm cho chúng ta phải băn khoăn rằng có đúng hay không cái niềm tin rộng rãi rằng người Do Thái thực sự giỏi hơn rất nhiều so với các tộc người khác.

        Tuy thế, hầu như chẳng có mấy nghi ngờ rằng người Do Thái hàng thế kỷ nay đã có những đóng góp vô cùng lớn trong nhiều lĩnh vực tri thức và đã đạt được rất nhiều thành tựu. Một người chắc phải băn khoăn, làm sao mà một tộc người nhỏ bé đến như thế lại có thể tạo ra thật nhiều những con người có ảnh hưởng nhiều nhất, đạt được nhiều thành tựu nhất và giỏi nhất thế giới đến như vậy?

        Người Do Thái có một số lượng đáng kinh ngạc các vĩ nhân có tầm quan trọng nhất trong lịch sử, những người có ảnh hưởng sâu sắc tới nhân loại: Tổ phụ Abraham với cuộc đời và những điều răn dạy được người Do Thái, Kitô Giáo, và Hồi Giáo sùng kính; Moses, nhà lập pháp của người Do Thái và Kitô Giáo; Jesus và môn đồ Paul, người đã đặt nền móng và truyền bá đạo Kitô.

        Chỉ nhìn riêng vào thế kỷ 20, người ta có thể thấy rõ rằng người Do Thái đã đóng góp vai trò nền tảng trong nhiều lĩnh vực làm định hình thế giới hiện đại (nếu không phải luôn luôn theo một chiều hướng tích cực): nhà vật lý học Albert Einstein; cha đẻ của ngành phân tâm học, Sigmund Freud; nhà Cộng sản học Karl Marx; bác sĩ Jonas Salk và Albert Sabin, những người đã phát triển vác-xin chống bệnh bại liệt; và nhiều nhà khoa học hàng đầu, tiên phong trong việc phát triển bom nguyên tử dựa trên các lý thuyết của Einstein – trong số họ bao gồm Felix Bloch, Niels Bohr, Otto Frisch, Robert Oppenheimer, Leo Szilard, và Edward Teller. Quả thực, người Do Thái đã chi phối ngành vật lý nguyên tử tại Châu Âu trong suốt những năm 1930, đến mức mà người ta thậm chí đã thường nhắc đến nó với tư cách là “vật lý học Do Thái.”

        Thậm chí, còn có những bằng chứng nói lên rằng Elvis có tổ tiên là người Do Thái!

        Người Do Thái có thể không phải là dân tộc được lịch sử ái mộ nhất, nhưng không một dòng giống nào khác có thể sánh ngang, theo tỷ lệ, với họ về các khả năng và các thành tựu đã đạt được. Cộng hưởng với những nét đặc trưng thường thấy khác của họ như tham vọng, sự hiếu kỳ, sinh lực, trí tưởng tượng, và sự bền bỉ, trí tuệ của người Do Thái đã được nâng lên với một số lượng hết sức đáng ngưỡng mộ những người thuộc về dân tộc họ được xếp vào các thứ hạng danh giá nhất trong nhiều lĩnh vực.

        Hãy suy xét những điều sau đây:

        ~ Tỷ lệ người Do Thái có chỉ số IQ từ 140 trở lên được ước lượng nhiều hơn gấp sáu lần so với tỷ lệ đó của bất kỳ tộc người nào khác.

        ~ Tuy rằng người Do Thái chỉ chiếm khoảng 2/10 của 1% dân số thế giới, họ giành tới 29% các giải Nobel đã được trao trong các lĩnh vực văn học, y học, vật lý, và hóa học trong nửa cuối thế kỷ 20. Cho đến thế kỷ hiện tại này, con số đó đã lên đến 32%. Và những người Do Thái mà chúng ta đang nói đến hầu như chỉ riêng về nam giới chính yếu có thủy tổ từ Tây Âu (ít hơn so với 1/10 của 1% dân số thế giới), mặc cho sự lan tràn của nạn phân biệt chủng tộc, của hàng lớp các rào cản luật pháp, của sự khủng bố thường xuyên, và của nạn thảm sát Do Thái thời Hitler.

        ~ Từ 1870 đến 1950, sự dẫn đầu của người Do Thái trong các lĩnh vực như văn học, âm nhạc, hội họa, sinh học, hóa học, vật lý, toán học, và triết học là khoảng từ 4 đến 14 lần ngang với tỷ lệ người Do Thái tại châu Âu và Bắc Mỹ.

        ~ Năm 1954, trong số 28 trẻ em hưởng nền giáo dục công tại thành phố New York được phát hiện có chỉ số IQ từ 170 trở lên có tới 24 em là người Do Thái.

        Và, đương nhiên, tỷ lệ cao đến lạ thường của người Do Thái trong các lĩnh vực như y học, luật học, tài chính, văn học, khoa học, nghệ thuật và truyền thông là hết sức rõ ràng cũng như hết sức đáng kinh ngạc. Với một số người, những thực tế này thật khó xử, thậm chí gây ngượng, nuôi dưỡng những khuôn sáo của dân Do Thái như “mánh khóe” và “khôn lỏi” trong việc giỏi kiếm tiền và phô trương sự hợm hĩnh của mình trước những kẻ không cùng chủng tộc. Thực sự, vấn đề này – hay thực tế này, nếu hiện tại người ta cho phép – về trí tuệ ưu việt của người Do Thái là rất ít khi, thậm chí không được đề cập đến, trong các ấn phẩm Do Thái.

        Để giải thích điều này, chúng ta có Charles Murray, như tác giả tự xưng mình là “Người Xcốt-Ailen không phải Do Thái đến từ Bang Iowa” thuộc Viện Doanh nghiệp Mỹ, người đã viết cuốn văn kiện đầy thuyết phục “The Bell Curve”, mà trong năm 1994 đã làm dấy lên một cơn bão các tranh luận trái chiều do đã thảo luận – theo một thứ ngôn ngữ không phải lúc nào cũng chính xác về mặt chính trị – về vấn đề “các khác biệt trong năng lực trí tuệ giữa con người và các nhóm người, và ý nghĩa đằng sau các khác biệt đó đối với tương lai của nước Mỹ.”

        Gần đây, Murray đã cho ra đời một bài luận xuất sắc và rất thuyết phục cho ấn phẩm Do Thái đầy uy tín “Commentary” về “Thiên tư Do Thái”, đã trích dẫn nhiều sự kiện thực tế và các tài liệu lập luận được sử dụng như nền tảng cho bài viết này. Đây là lần đầu tiên, cuốn Tạp chí Do Thái này đã đưa ra thảo luận một cách có hệ thống cái chủ đề thường được xem là cấm kỵ, mà đã làm cho rất nhiều người Do Thái chấp nhận một cách miễn cưỡng trước dư luận.

        Murray đã quan sát để thấy rằng hai tác phẩm văn học có tầm ảnh hưởng nhất đều đã được viết bởi người Do Thái và về người Do Thái: đó là cuốn kinh thánh của đạo Ki-tô và cuốn kinh thánh của đạo Do Thái, hay cái gọi là Cựu Ước Hi Văn và Tân Ước Hi Văn, và ông tiếp tục trích dẫn rất nhiều các ví dụ khác về cái mà chỉ có thể được gọi là siêu thế trí tuệ của người Do Thái.

        Murray đã tranh luận đầy thuyết phục rằng “trí tuệ tuyệt đỉnh của người Do Thái là dựa trên nền tảng di truyền học” hơn là được gây ra bởi môi trường bên ngoài (với các yếu tố như có nhiều sách vở tại gia), và rằng điều đó là “có tính kế thừa đáng kể.” Và người Do Thái, đặc biệt là người Do Thái tộc Ashkenazim ở vùng Trung và Tây Âu, đã được tiếp hợp qua hàng thế kỷ vào cái mà về cơ bản tạo nên một sự giao hợp chọn lọc và hợp nhất gen để sinh ra những đưa trẻ với trí thông minh vượt trội.

        Bộ Văn cổ Talmud (Luận Pesahim 49a) nói rằng “Một người đàn ông nên bán tất cả những gì anh ta sở hữu để có thể cưới con gái của một học giả, cũng như anh ta nên bán tất cả những gì anh ta có để có thể gả con gái mình cho một học giả.” Trong cộng đồng người Do Thái ở Trung Đông trước đây, những người đàn ông giỏi nhất thường trở thành các giáo sỹ Do Thái, và những người đàn ông thông tuệ với địa vị cao sang này sẽ hoàn toàn có thể cưới con gái của các vị thương gia thành đạt, sự “chọn lọc” như vậy thiên về trí tuệ vượt bậc.

        Trong khi đó, những người theo đạo Ki-tô lại làm điều ngược lại: các giáo sĩ và thầy tu tại các nhà thờ đầy ảnh hưởng của Giáo hội Công giáo La Mã – cũng thường là những người giỏi nhất và sáng dạ nhất trong các cộng đồng của họ – lại bị cấm không được kết hôn, và như vậy đồng nghĩa với việc “loại trừ” – thông qua việc sống cuộc đời độc thân – hầu hết những người đàn ông có trí tuệ vượt trội này ra khỏi vốn gien quần thể.

        Murray cũng nhận thấy rằng “Những người Do Thái tộc Sephardi đã trở thành những con người ưu tú ở rất nhiều quốc gia nơi họ đã định cư. Một số nhà kinh tế học lich sử đã lần ra sự suy tàn của Tây Ban Nha sau năm 1500 [theo sau sự trục xuất đối với người Do Thái], và sự phát triển ngay sau đó tại Hà Lan, nơi mà tài năng thương mại của tộc Sephardi đã được di chuyển từ một nơi này (Tây Ban Nha) tới một nơi khác (Hà Lan).”

        Bài viết đầy chất học giả và đầy tư liệu nghiên cứu của Murray đưa ra nhiều lý do khác chứng minh cho trí tuệ vượt trội của người Do Thái trong khả năng giao tiếp và lập luận, bao gồm hai yếu tố quyết định mà trong thực tế thường bị phớt lờ.

        Điều quan trọng nhất trong số này có thể được tìm thấy trong bài báo mang tên “Sự lựa chọn nghề nghiệp của người Do Thái”, viết bởi hai học giả Maristella Botticini và Zvi Eckstein. Các tác giả tập trung vào một sắc lệnh được ban bố vào năm 64 Sau Công Nguyên của nhà hiền triết tử vì đạo Joshua ben Gamla, cao sĩ trong những năm cuối của thời Đền thờ thứ hai theo đạo Do Thái, yêu cầu tất cả nam giới phải được nhập học khi 6 tuổi. Quy định này hầu hết được tuân thủ và theo lời của Murray, “Trong khoảng một thế kỷ, người Do Thải, chỉ riêng tộc người này thôi giữa các tộc người khác trên thế giới, đã thiết lập một cách hiệu quả hệ thống toàn cầu về nam giới được học chữ và số.”

        Hơn thế nữa, trải qua nhiều thế kỷ, nam giới Do Thái đã phải học tập và nghiên cứu luật, một quá trình mà một người không bao giờ có thể hoàn thiện, và đọc – thường là đọc to trước công chúng – để có thể thực hành tín ngưỡng và dạy dỗ cho con cái của họ. Murray suy xét rằng rất nhiều người Do Thái với trí tuệ thấp đã không thể đọc tốt hoặc không thể hoàn thành yêu cầu về tri thức tôn giáo của họ đã thường có xu hướng bị trôi giạt ra khỏi nó.

        Murray cũng trích dẫn luận án của nhà di truyền học Cyril Darlington, tranh luận rằng tộc Do Thái đã được “hình thành một cách có chủ ý từ rất lâu nay,” trong khoảng thời gian Jerusalem sụp đổ và sự giam cầm dưới ách vua xứ Babylon Nebuchadnezzar năm 586 Trước Công Nguyên. Theo Kinh Thánh (2 Vị Vua 24:10-14), chỉ những thành phần ưu tú trong giới tinh hoa Israel mới được triệu tới Babylon, để lại đằng sau những kẻ bị coi là không có kỹ năng và kém thông minh. Nhà vua “đã mang theo cả Jerusalem, và tất cả các hoàng tử, tất cả những người đàn ông dũng mãnh quả cảm… và tất cả những người thợ thủ công và thợ rèn; không sót lại một ai, chỉ trừ những kẻ bần hàn nhất.”

        Vào thời điểm giới tinh hoa Israel trở về sau hơn một thế kỷ, rất nhiều kẻ bị bỏ lại đã bị giết hoặc đã kết hôn với những người dị tộc và bị cộng hưởng bởi những tộc người đó. Những người tha hương trở về đã tái lập một cộng đồng Do Thái mà hầu hết là các hậu duệ của những người có trí tuệ tinh thông nhất. Kể từ đó, tập quán Do Thái được tiếp tục nhằm phát triển “sự thuần khiết dân tộc”, thường giao duyên giữa những người trong cộng đồng, và tránh kết hôn với, và tránh bị đồng hóa bởi các dân tộc khác.

        Tuy nhiên, vẫn không thỏa mãn với những bằng chứng hết sức ấn tượng mình đã đưa ra, Murray tiếp tục nghiên cứu về khả năng trí tuệ được bộc lộ từ thuở khai thiên lập địa của người Do Thái. “Tại sao một tộc người cụ thể vào thời của Moses, sống trong cùng một môi trường với các tộc người khác có lối sống du mục và canh tác tại Trung Đông, lại sẵn có một trí tuệ tiến hóa vượt trội mà các tộc người khác đã không thể có được như thế?”

        Câu trả lời, Murray suy biện, có thể là giả thuyết “chắc như đinh đóng cột” của ông, rút ra từ tác phẩm văn học lâu đời nhất và nổi tiếng nhất của người Do Thái: “Người Do Thái là những kẻ được chọn bởi Chúa Trời.”

        Reply
  • Tuấn Nguyễn

    Kính gửi bác Alan, Bác vẫn giữ nhận định vàng sẽ tiếp tục tăng giá chứ ạ?
    Kính chúc bác nhanh mạnh khoe để tiếp tục truyền nhiệt huyết cho chúng cháu.

    Reply
    • Alan Phan

      Thời thế tình hình có thay đổi. Bác chỉ còn giữ 12% portfolio là vàng. Tuy nhien, sẵn sàng thay đổi vị trí khi gió quay chiều

      Reply
      • Tuấn Nguyễn

        Cháu cảm ơn bác nhiều, khi nào bác bác nhận thấy tình hình thay đổi thì bác lại có bài viết về vấn đề này bác nhé! cháu mong 1 ngày không xa sẽ được gặp trực tiếp bác.

        Reply
  • nguyễn khắc nhu

    Chào Bác Alan,
    Cháu không hiểu ý nghĩa của câu nói này, bác có thể giải thích cho cháu hiểu biết thêm được không Bác. Cháu cảm ơn bác

    “Mánh duy trì tăng trưởng kinh tế ổn định tuyệt vời nhất là định giá thấp đồng tiền, làm thế là tương đương với áp thuế lên người lao động Trung Quốc. Nhưng người ta không cảm thấy mình đang bị đánh thuế. Vì kinh tế tăng trưởng quá nhanh, nên dù người lao động có không được hưởng mấy thành quả, họ vẫn cứ hài lòng.”

    Reply
    • JackZhang

      ..là kinh tế BỊP và hàng ngày đang diễn ra đó

      Reply
    • Hồng Quang

      Đây là phân tích “cực hay” của Mr. Soros về… Việt Nam đấy.
      Bạn cứ đọc theo kiểu Việt Nam ta là:

      “Mánh khoé duy trì tăng trưởng kinh tế … là định giá thấp đồng tiền (phá giá dần VNĐ, tạo lợi thế cho xuất khẩu ?), làm thế là tương đương với tăng thuế lên người lao động… Nhưng người ta không cảm thấy mình đang bị “tận thu”. Vì khi kinh tế tăng trưởng nhanh, người lao động vẫn cứ hài lòng dù không được hưởng mấy thành quả… kẻ thắng cuộc là tầng lớp trên vì họ giàu lên rất nhanh khi kinh tế cất cánh. Tuy vậy, nếu kinh tế giảm tốc … người ta sẽ không chấp nhận cái thực tế đó nữa… kết quả tất yếu sẽ là xung đột và khủng hoảng”.

      Reply
      • Hồng Quang

        Bạn có thể đọc lại bài phân tích của T/S Alan về kinh tế TQ:
        Chính phủ luôn định giá thấp ND Tệ để tăng xuất khẩu, tích tụ ngoại tệ mạnh và bố thí đồng Tệ “rẻ mạt” cho người sản xuất. Họ thậm chí ko đc hưởng lãi suất tiết kiệm cho khoản tiền còm tích lũy, trong khi tiền đó đc ban phát cho nhiều nhóm lợi ích chuyên cho vay nặng lãi…

        Reply
  • phu

    thì giống như vầy nè.nhờ định giá thấp đồng tiền của mình thì trung quấc sẻ có lợi thế về giá trị tiền tệ so với nước khác ví dụ như ví dụ như cái đó trị giá sản xuất là 5 đồng nhưng thực ra nhờ định giá đồng tiền thấp nên giá của nó chỉ có 3 đồng.các nước khác sử dụng đồng tiền của mình chỉ có thể sản suất được với giá 5 đồng hông thể cạnh tranh được với trung quấc, thực ra trong quá trình phát triển tự nhien giá trị đồng tiền sẽ tự tăng lên nhưng để duy trì ưu thế tuyệt đối lãnh đạo trugn quấc không muốn làm vậy..
    điều đó cũng có nghĩa là nếu món đồ đó được bán với giá 4,5 đồng thì không nước nào cạnh tranh nổi.1,5 đồng bỏ túi tầng lớp thuê lao động sản xuất ra..vì vậy họ giàu rất nhanh
    3 đồng đó chỉ có 0,5 trả cho công nhân..nhưng nhờ việc bán được nhiều hàng thì người công nhân vẩn có thể sống được với mức lương đó..ví dụ sản xuất và bán được 10 cái thì được 5 đồng..nhưng khi kinh tế toàn cầu khó khăn.sức mua yếu thì chỉ bán được có 5 cái..nên thay vì lương 5 đồng giờ có 2,5 đồng. vấn đề bắt đầu từ đây…
    dùng từ áp thuế là bởi vì đáng nhẻ ra 5 đồng họ làm ra sẻ có giá trị rất cao tương đương với 10 đồng ỡ nước ngoài vì sản phẩm họ làm ra có giá tri lớn hơn ở nước ngoài..có nghĩa là họ được hưỡng giá trị thấp hơn so với gia trị thực của nó..

    Reply
    • Torch

      Chào phu,

      Giải thích của bạn có thể làm cho người đọc hiểu hiểu được đôi chút.
      Nếu phải tìm một quyển sách để nghiên cứu vấn đề này một cách nghiêm túc, chuyên sâu, cập nhật thì đó là quyển sách j? Xin được bạn phu vui lòng cho biết và gởi tin nhắn vào đây.
      Chân thành cảm ơn

      Reply
  • Lâm

    Theo chân Bác alan.

    Reply
  • chuột cống

    Trong 1 mội trường kinh tế phát triển “bong bóng” thì chỉ 1 số tành phần nào đó được hưởng lợi và không có cảm giác…bong bóng. Chỉ có người dân lao động,thành phần chiến hơn 80% dân số việt nam là cảm thấy “chạy theo không kịp” và rất mệt mỏi.
    Người nước ngoài tới v.nam nhìn những tòa nhà cao mãi…cao mãi đều thấy việt nam đang rất phát triển….
    Soros là người cảnh báo cả thế giới rằng Mỹ sẽ sớm kết thúc nới lỏng định lượng và sẽ sớm nâng lãi suất…vì vậy giá vàng giảm là điều dễ hiểu.

    Reply
  • Lạc Việt

    Liệu người Việt có ai dám THÁCH ĐẤU với George Soros không?

    Reply
  • Ngo tinh

    Góc nhìn, tất cả từ góc nhìn! Giải phóng góc nhìn do lịch sử để lại.

    Reply
  • Hồ An

    Cách đây không lâu, ngài G.Soros có đến Vietnam mấy ngày. Có nghe truyền thông đưa tin ghé chỗ này, chỗ kia một ít rồi ….tắt luôn. Soros đã gặp những ai, nói gì, cảm nhận như thế nào? vv… Rất nhiều người muốn biết mà đành bó chim. Bạn nào có thông tin thêm về chuyến đi của Soros đưa lên bây giờ đảm bảo vẫn rất là hot. Có thể là gây sốc cho thị trường đó!

    Reply

Để lại một nhận xét

© 2014 GÓC NHÌN ALAN

Scroll to top